Đội ngũ nhiếp ảnh nghiệp dư trong nền công nghiệp văn hóa

Vũ Kim Khoa|13:55 18/05/2026

(NADS) - Ngày 14 tháng 11 năm 2025 Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 2486/QĐ- TTg, “Phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Trong phần “Mục tiêu chung” có đặt Mĩ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm là một trong 10 chuyên ngành trọng tâm cho chiến lược “Công nghiệp văn hóa Việt Nam”.

Nhiệm vụ nhà nước giao, ai cũng hiểu đấy là sứ mệnh chính trị được khởi phát từ nhu cầu mà xã hội đòi hỏi. Rồi ai cũng biết, để vận hành mỗi đầu việc ở cấp nhà nước, sẽ có cả một nguồn nhân lực và tài lực khổng lồ được dự toán theo. Nhưng để thực thi công việc cụ thể trong tầm chiến lược của ngành văn hóa thì không phải cứ muốn là có; hay cứ đầu tư lớn thì ắt sẽ gặt hái được những kết quả cao tương ứng. Tôi xin đi sâu vào khảo sát thực tại nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực nhiếp ảnh, sẽ gặp những thuận lợi và khó khăn nào khi cùng tham gia vào mục tiêu chiến lược “Công nghiệp văn hóa Việt Nam”.

Tác phẩm ảnh: Làng cổ Choản Thèn trong mây - Tác giả: Nguyễn Duy Hoàng (Lào Cai) - Huy chương Bạc Liên hoan Ảnh nghệ thuật Khu vực Miền núi phía Bắc lần thứ 24 năm 2025

Với nhiếp ảnh, thì phía sau mỗi khuôn ngắm là con mắt sống động, đơn độc và có chủ kiến của người cầm máy. Sản phẩm của người nghệ sĩ chỉ có giá trị khi nó là độc bản duy nhất hội tụ ba hằng định căn bản: thiên thời; địa lợi; nhân hòa. Để khai thác được tối ưu thời cơ vàng thì trước đó nhà nhiếp ảnh đã phải thành thạo các vấn đề chuyên môn của người thợ ảnh: làm chủ thiết bị ghi hình, điêu luyện trong khâu hậu kỳ như tráng phim, dọi ảnh (đối với ảnh phim), hoặc sử dụng thành thạo các phần mềm xử lý ảnh số.

Trong thực tế đã có rất nhiều những bức ảnh hoàn hảo về kỹ thuật và mỹ thuật nhưng vẫn chỉ được coi là một khuôn hình đẹp bởi nó thiếu sức sống và vô hồn. Khi tự thân một tác phẩm nhiếp ảnh ẩn chứa nội dung, lại lấp lóa vẻ đồng điệu của “chân, thiện, mỹ”, chạm thúc vào cảm xúc người xem ảnh và lan tỏa chính kiến của người chụp, tác phẩm nhiếp ảnh đó mới thực sự tạo được chỗ đứng và có thể trở thành một sứ giả của văn hóa.

Một nhà nhiếp ảnh giỏi không chỉ được định hình bởi năng lực quan sát tinh tế mà còn bởi nền tảng tri thức văn hóa sâu rộng. Quá trình quan sát liên tục rèn đúc cho chủ thể sáng tạo tích lũy và chắt lọc kinh nghiệm, từ đó hình thành khả năng nhận diện, lựa chọn và “cô đặc” hiện thực khách quan vốn phức tạp, hỗn độn vào một khuôn hình giàu tính biểu cảm. Mỗi tác phẩm vì vậy không đơn thuần là sự ghi nhận sự việc mà còn là kết quả của quá trình kiến tạo có chủ đích, phản ánh góc nhìn xã hội và thế giới quan mang đặc tính cá nhân của nhà nhiếp ảnh. Do đó, trước cùng một hiện tượng đời sống, sự khác biệt về hệ quy chiếu nhận thức có thể dẫn đến những diễn giải thị giác đối lập, chẳng hạn: giữa khuynh hướng bi cảm và khuynh hướng lạc quan.

Trong bối cảnh ở Việt Nam, nhiếp ảnh về cơ bản vẫn mang đặc tính của một thị trường tiêu thụ, còn lâu mới tạo lập được quy trình sản xuất và tiêu dùng khép kín của một hệ sinh thái mang dáng dấp công nghiệp hoàn chỉnh. Để tạo ra một sản phẩm nhiếp ảnh: nhỏ xíu như để dán vào chứng minh nhân dân, đến các tác phẩm ảnh nghệ thuật khổ lớn được chọn trưng bày trong triển lãm của Bộ Văn hóa, thông thường đều phải trải qua hai công đoạn chính: ghi hình và in ấn. Tuy nhiên, các yếu tố đầu vào phục vụ cho hai công đoạn này đều phụ thuộc căn bản từ nguồn gốc ngoại nhập, bao gồm thiết bị chụp, vật liệu cảm quang, máy in, giấy ảnh và hóa chất xử lý. Mặc dù vào đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước từng xuất hiện các sản phẩm nội địa như giấy và hóa chất mang nhãn hiệu Bình Minh, song những nỗ lực của doanh nghiệp này đã không thể duy trì khả năng cạnh tranh trước làn sóng hàng hóa nhập khẩu có ưu thế về công nghệ và chất lượng vượt trội.

Tác phẩm ảnh: Hè của chúng em - Tác giả: Lê Mạnh Hùng (Điện Biên) - Giải Khuyến khích Liên hoan Ảnh nghệ thuật Khu vực Miền núi phía Bắc lần thứ 24 năm 2025

Xét cấu trúc chuỗi giá trị “sản xuất hàng hóa nhiếp ảnh” toàn cầu, các tay máy ở Việt Nam chủ yếu đảm nhận vai trò trung gian, nằm ở giữa hệ thống cung cấp tư liệu kỹ thuật (do các tập đoàn ở nước ngoài nắm giữ) và thị trường tiêu dùng nội địa. Từ góc độ kinh tế vĩ mô, thực trạng này sẽ đặt ra thách thức đối với việc cân bằng cán cân thương mại trong lĩnh vực nhiếp ảnh, đặc biệt trong bối cảnh mục tiêu “Công nghiệp văn hóa nhiếp ảnh” vẫn còn ở giai đoạn khởi phát, định hình. Do đó, việc xây dựng năng lực sản xuất nội địa và giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu sẽ tiếp tục là một bài toán dài hạn đối với các cơ quan quản lý nhà nước.

Hẳn nhiên, trong mỗi ngành công nghiệp, yếu tố cốt lõi nhất phải là nguồn nhân lực. Nếu ở thời điểm hiện tại, nhìn vào lực lượng lao động nhiếp ảnh chuyên nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, người ta sẽ thấy mênh mông những khoảng trống. Các tòa soạn báo, tạp chí từ trung ương đến địa phương từ lâu đã cắt giảm, thậm chí không còn biên chế chuyên môn cho lĩnh vực nhiếp ảnh. Việc ép phóng viên viết bài kiêm nhiệm công việc chụp ảnh một cách đại trà trên thực tế đã làm nhạt chất lượng hình ảnh trên diện tích mặt báo.

Điều đáng buồn là có không ít phóng viên ảnh chuyên nghiệp lại thiếu đam mê và kém năng lực về nhiếp ảnh. Cách thức tuyển chọn, quản lý và tạo môi trường cạnh tranh không được chú trọng trong một thời gian dài đã khiến những người hưởng lương (lực lượng vốn được coi là chuyên nghiệp) trở nên lười biếng, ỷ lại, thiếu khát vọng và dần đánh mất vị thế trong chính cơ quan báo chí nhà nước quản lý. Khi nhìn sang lực lượng nhiếp ảnh gồm những tay máy nghiệp dư (lực lượng không hưởng lương) đang “làm mưa làm gió” trên thị trường nhiếp ảnh Việt Nam, ta có thể đặt câu hỏi: liệu những “nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp” có thể giữ vai trò chủ đạo trong sự nghiệp “công nghiệp văn hóa nhiếp ảnh Việt Nam”?

Những nhà nhiếp ảnh là thành viên của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp từ cấp địa phương đến trung ương có xuất thân đa dạng; họ đam mê nhiếp ảnh, hoạt động có định hướng và nhờ thành tích trong các cuộc thi ảnh nên được kết nạp vào tổ chức. Khi trở thành hội viên, về nguyên tắc họ phải có trách nhiệm đóng hội phí để sinh hoạt và duy trì tổ chức trong mối tương quan “xã hội hóa”. Họ tuy có danh phận nhưng cũng thuộc lực lượng nghiệp dư (bởi không được hưởng lương). Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam hiện có hơn một nghìn thành viên. Hội viên nhiếp ảnh trong các hội văn học, nghệ thuật ở các địa phương dao động từ vài chục đến hơn một trăm người. Các tổ chức này đã hoạt động nhiều năm nên họ phần nhiều do tuổi tác, do đã vắt kiệt vốn “kinh nghiệm nghề nghiệp” mà mình có, do mòn mỏi chạy theo các cuộc thi, do hết khả năng tái đầu tư cho việc mua sắm bổ sung phương tiện tiên tiến và do chậm thích ứng với những kiến thức mới đang tràn vào lĩnh vực nhiếp ảnh. Nên số người vẫn giữ được khả năng sáng tạo và tích cực tham gia hoạt động thường chỉ còn chiếm khoảng một phần ba trong danh sách.

Lực lượng đang hoạt động nhiếp ảnh nằm ngoài các cơ quan báo chí hay hội đoàn là rất lớn (khó có thể thống kê chính xác). Có người chuyên làm ảnh dịch vụ và đạt chất lượng cao, tạo được uy tín với khách hàng trong lĩnh vực mình theo đuổi; khi có đam mê và gặp thời cơ thuận lợi, họ có thể nhận thu nhập tốt từ nhiếp ảnh. Bên cạnh đó, những người sống bằng nghề khác nhưng yêu nhiếp ảnh cũng góp một số lượng đáng kể. Họ ít, thậm chí không tham gia các cuộc thi nhiếp ảnh do không thấy nhu cầu, vì lòng tự trọng hoặc muốn tránh những ồn ào; nhưng tác phẩm của họ vẫn âm thầm đóng góp không hề nhỏ vào việc tôn vinh và quảng bá hình ảnh về quê hương, đất nước tới bạn bè trong và ngoài nước. Tuy nhiên các tổ chức hội đoàn hiện vẫn chưa có công cụ gì để định hướng và quản lý lực lượng này. Do hoạt động độc lập và không có sự hỗ trợ nên rất nhiều người có khả năng tốt đã đột ngột chuyển sang thú chơi khác, lãng phí đáng kể cả một nguồn tài chính cho mua sắm phương tiện, thiết bị dành cho nhiếp ảnh. Và thứ lãng phí đáng kể hơn là niềm đam mê và những kinh nghiệm tích cóp được bị trôi tuột đi mất.

Vẫn còn là một ẩn số: liệu rằng bản thân nhiếp ảnh, mỹ thuật hay hệ thống trưng bày, triển lãm và đấu giá tác phẩm nghệ thuật trong tương lai gần ở Việt Nam có thể tự tạo lập thành một ngành có quy mô công nghiệp trong chuỗi giá trị văn hóa hay không. Câu hỏi đó sẽ được chính những nhà tổ chức, những người thực thi mà Chính phủ kỳ vọng và gửi gắm phải trả lời.

Nhưng ngay từ bây giờ, những người tham gia vào guồng quay “Công nghiệp văn hóa” cần hiểu và thông tỏ các khái niệm mới, rồi từng bước triển khai những nhiệm vụ cụ thể. Giả như: cần giải quyết thế nào với mục tiêu sơ đẳng nhất của sản xuất công nghiệp là hàng hóa phải đảm bảo: “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”? Trong khi đó, ở hai lĩnh vực nghệ thuật là mỹ thuật và nhiếp ảnh, người ta lại đề cao tính độc bản; vì vậy, cái “nhiều” của mục tiêu hàng công nghiệp xung khắc với tính đơn lẻ trong nghệ thuật thị giác.

Ví dụ: Tác phẩm nhiếp ảnh “Rhein II” (từng được coi là đắt nhất thế giới) của Andreas Gursky đã được sàn đấu giá Christie's New York bán với giá 4.338.500 USD khi chỉ được in một bản duy nhất. Nếu xuất hiện bản in thứ hai trên thị trường, chắc chắn tác phẩm sẽ không còn giữ được mức giá đó; thậm chí, nếu bị in tới hàng nghìn bản, giá trị của nó có thể giảm mạnh và khó tiêu thụ.

Tác phẩm: Rhein II - Tác giả: Andreas Gursky

Bấy lâu nay, chúng ta thường coi giá trị của một ngôi đền, một bài thơ hay một bản nhạc… là giá trị tinh thần, và vì thế người ta định lượng rằng nó “vô giá”. Tuy nhiên, sẽ rất tùy tiện nếu quy đổi những giá trị tinh thần ấy sang giá trị vật chất một cách vô lối, thiếu cơ sở khoa học.

Mục tiêu của “công nghiệp văn hóa” là khai thác văn hóa một cách sáng tạo và có trách nhiệm. “Công nghiệp văn hóa” phải có khả năng tự đứng vững, đồng thời đóng vai trò như một “chất xúc tác” hỗ trợ các ngành khác phát triển mạnh mẽ hơn (như du lịch, hàng không, logistics…). Các chuyên ngành sáng tạo trong thời đại công nghiệp văn hóa sẽ có điều kiện hoạt động bài bản hơn, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và đưa chúng vào vòng quay dịch vụ nhằm gia tăng giá trị kinh tế. Qua đó, văn nghệ sĩ có thêm nhiều cơ hội tìm việc làm, thu nhập ổn định và đóng góp tích cực cho xã hội.

Mục tiêu đưa nhiếp ảnh trở thành một trong mười chuyên ngành trọng tâm trong chiến lược “Công nghiệp văn hóa Việt Nam” là nhiệm vụ do Nhà nước giao, kèm theo nguyên tắc: “… không được bàn lùi”. Tuy nhiên, đề án mới thường đặt ra nhiều câu hỏi cho cộng đồng: giao cho ai thực hiện? Và người được giao có hội đủ tài năng, thực lực để giải quyết công việc hay không?

Trong hàng chục đầu mục cần triển khai, vấn đề nhân lực chắc chắn là mối lo lớn nhất. Ở các chuyên ngành khác, người viết chưa có điều kiện tìm hiểu đầy đủ về bề rộng và chiều sâu. Nhưng với nhiếp ảnh, trước mắt, các nhà tổ chức buộc phải dựa vào lực lượng nghiệp dư để thực thi nhiệm vụ.

Hy vọng khi cán mốc những năm 2030 và 2045, người Việt sẽ nhận được một bản tổng kết đầy tính lạc quan.


(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Nhiếp ảnh & Đời sống
Đội ngũ nhiếp ảnh nghiệp dư trong nền công nghiệp văn hóa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO