Nhưng để nhiếp ảnh thực sự trở thành một phần của nền công nghiệp văn hóa, câu hỏi quan trọng cần đặt ra là: Liệu chúng ta đã bảo vệ được tài sản cốt lõi nhất của người sáng tạo – quyền sở hữu trí tuệ? Bởi sẽ là một nghịch lý nếu một ngành được kỳ vọng tạo ra giá trị kinh tế, quảng bá hình ảnh quốc gia, lưu giữ ký ức văn hóa nhưng chính sản phẩm của ngành ấy lại đang bị sử dụng vô tội vạ, bị sao chép, cắt ghép, thương mại hóa mà thiếu sự tôn trọng tối thiểu dành cho tác giả.
Trong thời đại truyền thông số, một bức ảnh đẹp về Việt Nam có thể đi xa hơn hàng nghìn lời quảng bá. Một khuôn hình về phố cổ Hà Nội, về ruộng bậc thang Tây Bắc, văn hóa Tây Nguyên hay đời sống ngư dân miền biển không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn có khả năng kích thích du lịch, quảng bá thương hiệu địa phương, tạo cảm hứng cho điện ảnh, xuất bản, giáo dục và truyền thông. Nói cách khác, nhiếp ảnh đang trực tiếp tham gia vào chuỗi giá trị của nền công nghiệp văn hóa.
Nhiều quốc gia đã biến kho dữ liệu ảnh thành nguồn tài nguyên kinh tế có giá trị lớn. Ảnh được cấp phép khai thác bản quyền, trở thành tư liệu quảng bá quốc gia, xuất hiện trong sách, triển lãm, sản phẩm lưu niệm và môi trường số. Trong khi đó, ở Việt Nam, dù có đội ngũ sáng tác đông đảo và nhiều tác phẩm đạt giải quốc tế, giá trị kinh tế từ nhiếp ảnh vẫn chưa tương xứng. Một trong những nguyên nhân lớn nhất nằm ở chính sự lỏng lẻo trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Một thực tế đáng buồn là ảnh bị sử dụng như tài sản vô chủ. Nhiều nhiếp ảnh gia Việt Nam đều từng trải qua cảm giác chua chát khi bắt gặp tác phẩm của mình xuất hiện ở nơi nào đó mà không hề được hỏi ý kiến. Từ pano ngoài phố, quầy bán hàng lưu niệm, website du lịch, fanpage thương mại đến những chiến dịch quảng bá địa phương. Không ít bức ảnh bị sử dụng không ghi tên tác giả, không xin phép và không trả bất kỳ khoản nhuận quyền nào. Thậm chí có những tác phẩm bị cắt cúp, chỉnh sửa, xóa watermark rồi sử dụng cho mục đích thương mại như điều hiển nhiên.
Nếu những hành vi ấy xảy ra với âm nhạc, điện ảnh hay xuất bản, dư luận sẽ phản ứng mạnh mẽ. Nhưng với nhiếp ảnh, sự vi phạm lại thường bị xem nhẹ. Có lẽ vì ảnh quá dễ sao chép. Nhưng dễ sao chép không đồng nghĩa với việc được phép chiếm dụng. Đằng sau mỗi bức ảnh là chi phí sáng tác, công sức, kỹ năng, sự đánh đổi thời gian, thậm chí là cả hiểm nguy của người cầm máy. Có những khoảnh khắc thiên nhiên phải chờ nhiều tuần lễ. Có những hành trình vùng cao, biên giới, biển đảo mà người chụp phải tự bỏ kinh phí và đối diện không ít rủi ro. Nếu tác phẩm dễ dàng bị lấy đi mà không được bảo vệ thì người thiệt thòi nhất chính là những người đang trực tiếp tạo nên vốn hình ảnh của quốc gia.
Điều đặc biệt ở Việt Nam là kho tư liệu hình ảnh quý giá về đất nước được tạo ra bởi đội ngũ nghệ sĩ nhiếp ảnh đông đảo và những người cầm máy bằng đam mê. Họ là nhà báo, giáo viên, kỹ sư, công chức, doanh nhân hay người lao động bình thường nhưng cùng chung tình yêu với hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Không ít người tự bỏ tiền túi để đi sáng tác, tự lưu giữ văn hóa dân gian, di sản thiên nhiên, đời sống cộng đồng và những khoảnh khắc đang dần mất đi trong nhịp phát triển hiện đại. Có thể nói, đây là một “đội quân thị giác” đặc biệt, đang âm thầm góp phần tạo nên nguồn tài nguyên cho công nghiệp văn hóa với chi phí xã hội rất thấp.
Nhưng nghịch lý là: họ đang đóng góp rất nhiều trong khi lại được bảo vệ quá ít. Khi bản quyền bị xâm phạm kéo dài, sự hào hứng sáng tạo sẽ giảm đi. Người nghệ sĩ sẽ không còn động lực để đầu tư cho những dự án dài hơi, những bộ ảnh công phu hay những hành trình sáng tác tốn kém. Và khi đó, công nghiệp văn hóa sẽ mất đi nguồn nguyên liệu quý giá nhất: nội dung sáng tạo gốc.
Muốn có công nghiệp văn hóa, phải bắt đầu từ sự tôn trọng tác quyền. Một nền công nghiệp văn hóa không thể phát triển trên nền tảng của việc sử dụng miễn phí chất xám. Muốn nhiếp ảnh thực sự trở thành ngành công nghiệp sáng tạo, đã đến lúc cần nhìn nhận bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không phải là việc phụ mà là điều kiện tiên quyết.
Cần mạnh tay hơn với các vi phạm bản quyền ảnh. Cần cơ chế định giá, giao dịch và khai thác ảnh minh bạch. Cần xây dựng ngân hàng dữ liệu ảnh quốc gia và hành lang pháp lý đủ mạnh để người sáng tạo được bảo vệ. Quan trọng hơn cả, cần thay đổi nhận thức xã hội rằng: Một bức ảnh không phải là “tư liệu miễn phí trên mạng” mà là tài sản trí tuệ của người sáng tạo. Bởi nếu những người tạo ra hình ảnh đẹp về Việt Nam không được bảo vệ thì mục tiêu xây dựng một nền công nghiệp văn hóa mạnh sẽ rất khó đi đến đích. Suy cho cùng, muốn mở cánh cửa công nghiệp văn hóa Việt Nam, chiếc chìa khóa đầu tiên phải là sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

