Biến chuyển về công nghệ kỹ thuật số trong nhiếp ảnh hiện nay có thể nói mới chỉ trong giai đoạn “khởi động” trong khi yêu cầu xây dựng và phát triển một nền công nghiếp nhiếp ảnh - một phần không tách rời của công nghiệp văn hóa đang dần trở nên cấp thiết. Đây là vấn đề cần giải quyết trong nhiệm kỳ tới (2026-2031) của nhiếp ảnh cả nước mà vai trò đầu tầu cần là nhiếp ảnh Tp. Hồ Chí Minh.

Trong nhiệm kỳ 2020-2026 có thể thấy việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong nhiếp ảnh cả nước đã được các cơ quan quản lý và trực tiếp là đội ngũ những người cầm máy, nhất là giới trẻ quan tâm. Tuy nhiên sự quan tâm đó mới chỉ dừng ở những khâu cơ bản như: trang bị máy ảnh kỹ thuật số, trang bị phần mềm xử lý ảnh và nay là những công cụ trí tuệ nhân tạo AI và ứng dụng mạng trong các cuộc thi ảnh chủ yếu là chấm ảnh từ xa. Nếu so với khả năng rộng lớn của công nghệ kỹ thuật số thì những điều nhiếp ảnh chúng ta ứng dụng được quả là còn rất ít và rất khiêm tốn. Hơn nữa, cần lưu ý rằng tất cả những điều làm được đó mới chỉ là ứng dụng sản phẩm công nghệ kỹ thuật số do thế giới nghiên cứu, sản xuất chứ nhiếp ảnh Việt Nam chưa góp phần tạo ra những sản phẩm công nghệ kỹ thuất số trong lĩnh vực nhiếp ảnh. Thiếu công tác nghiên cứu, sản xuất và phát triển với quy mô đủ lớn, chúng ta khó có thể vươn tới một nền công nghiệp thực thụ.
Với yêu cầu tiến tới xây dựng một nền công nghiệp nhiếp ảnh trong tương lai, có thể thấy một số vấn đề nhiếp ảnh Việt Nam cần chú trọng quan tâm, đó là:
• Vấn đề thứ nhất. Yêu cầu sớm tích hợp dữ liệu ảnh trong các trung tâm dữ liệu lớn (Big Data). Việc tích hợp cần thực hiện từ các nguồn dữ liệu cá nhân, kho dữ liệu các hội nhiếp ảnh tỉnh thành và hội NSNA Việt Nam. Do khối lượng lớn dữ liệu ảnh của chúng ta hiện nay đang được lưu trữ phân tán nên không tạo dựng được nền tảng nguyên liệu đầu vào cho môi trường nhiếp ảnh phục vụ cho một nền công nghiệp hiện đại. Tích hợp dữ liệu ảnh từ các nguồn cá nhân và địa phương, nhìn từ góc độ kỹ thuất là vấn đề khó, tuy nhiên khó nhất ở đây là tính pháp lý và phương thức thu hút huy động dữ liệu nhằm phục vụ công tác lưu giữ tập trung và khai thác sử dụng. Cụ thể là làm sao để những người lưu giữ ảnh đồng tình với việc chuyển quyền lưu giữ hình ảnh và giao quyền khai thác dữ liệu cho các Trung tâm dữ liệu. Thời gian qua, một số hội đã làm việc với một vài doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản lý và khai thác dữ liệu nhưng chưa có kết quả rõ rệt. Có kho dữ liệu ảnh, mới có nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sáng tạo và sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo trong công nghiệp nhiếp ảnh. Về cấu trúc hoạt động của các trung tâm dữ liệu trong các khâu truyền dẫn, phân tích, phân loại, lưu trữ cũng như khai thác dữ liệu ảnh tại các trung tâm là những vấn đề lớn, tác giả xin không đề cập ở đây.
• Vấn đề thứ hai. Đó là triển lãm trưng bày ảnh. Theo phương thức truyền thống từ trước đến nay, triển lãm trưng bày ảnh là công bố các tác phẩm được in ra giấy hay vải với chú thích tên tác phẩm, tác giả. Để có được một bộ ảnh triển lãm, lưa chọn không gian, treo ảnh, backdrop thích hợp thực sự không đơn giản và rất tốn ké,m. Với số lượng cả trăm ảnh triển lãm, số ảnh được người xem “để mắt” ngắm chọn để chiêm ngưỡng không là bao. Điều đáng băn khoăn khác, đó là sau lễ khai mạc, hầu như tất cả các phòng triển lãm đều “vắng như chùa Bà Đanh”. Trong khi đó, chi phí cho một cuộc triển lãm không nhỏ, hàng chục triệu đồng với bao công sức và tác giả không biết làm gì với những tác phẩm sau triển lãm. Chính vì những lý do đó, nhiều người cầm máy, các nghệ sỹ nhiếp ảnh phải rất đắn đo nếu muốn thực hiện triển lãm. Không ít người cầm máy không dám tổ chức triển lãm cá nhân khi cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn, thiếu thốn và một phấn không nhỏ tài chính gia đình đã “đổ” vào khâu sáng tác.

Chính vì vậy, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số đang trở thành giải pháp tốt, đáp ứng việc khắc phục phần lớn những trở ngại trong công tác triển lãm nếu có một màn hình TV cỡ khoảng 75 in trở lên hay màn chiếu sử dụng đèn chiếu (projector). Nếu không có sẵn, việc thuê một chiếc TV cỡ lớn trong thời gian vài tiếng cũng chỉ khoảng 1/4 - 1/5 chi phí in ảnh, đóng khung hàng trăm tấm hình để triển lãm như trước đây - cũng là một giải pháp. Trong quá trình chuẩn bị tác phẩm triển lãm, kết thúc khâu hoàn thiện file ảnh, , cả 2 phương pháp trưng bày ảnh truyền thống và ứng dụng công nghệ trình chiếu kỹ thuật số đều giống nhau. Riêng phần tạo Clip trình chiếu, đối với các kỹ thuật viên lành nghề, thời gian tạo Clip kèm âm nhạc chỉ khoảng tối đa vài tiếng. Nếu muốn trình chiếu bộ ảnh kèm những bản nhạc hay bài hát đã nổi tiếng, tác giả bộ ảnh cần xin phép sử dụng tác phẩm âm nhạc kèm theo. Việc này khá phức tạp và cần nhiều thời gian và cả chi phí. Còn nếu muốn nhanh và đơn giản hơn, tác giả bộ ảnh có thể sử dụng AI như Suno nhưng xin lưu ý, để “nhờ” AI, bạn cũng cần trả bản quyền sử dụng công cụ AI cộng với tay nghề cao. Trường hợp tác giả muốn trình chiếu cho hình ảnh “trượt” theo ý mình hoặc dừng lại bất kỳ hình ảnh nào để giao lưu với người xem thì không cần tạo clip mà chỉ dùng slide show là được. Việc trình chiếu các bộ ảnh nghệ thuật thay cho thực hiện triển lãm truyến thống thông qua công nghệ kỹ thuật số mở ra khả năng tương tác vô cùng hiệu quả giữa nhiếp ảnh và các loại hình nghệ thuật khác, đặc biệt là âm nhạc, điện ảnh … Khi đó, giá trị nghệ thuật nhiếp ảnh sẽ được nâng cánh, bay xa hơn, cao hơn, dễ đi vào lòng người hơn.
Triển lãm ảnh ứng dụng công nghệ kỹ thuật số đơn giản, tiết kiệm, dễ dàng hơn và tăng giá trị về mọi mặt, ai cũng làm được. Hơn nữa, với triển lãm truyền thống, việc đưa tác phẩm đi trưng bầy ở các địa điểm hay điạ phương khác chưa nói đến nước ngoài rất vất vả, tốn kém khi phải vận chuyển hàng trăm tấm ảnh bằng ô tô, xe lửa hay máy bay . Nay ứng dựng công nghệ kỹ thuật số, những khó khăn đó sẽ được khắc phục triệt để khi tác giả chuyển qua mạng, đăng clip lên Youtube mà không phải trả bất kỳ chi phí nào.

• Vấn đề thứ ba. Ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong n các hội hiếp ảnh có quy mô vừa và lớn đã đến lúc đòi hỏi cần có bộ phận hay cà nhân có chuyên môn cao thực hiện. Những người đó nên có vị trí công tác ổn định, có phụ cấp hay thù lao. Không nên coi ứng dụng công nghệ kỹ thuật số là việc phụ hay có cũng được, không có cũng chẳng sao. Với bộ máy hiện nay, các cơ quan quản lý nhiếp ảnh chủ yếu phục vụ cho việc tạo ra sản phẩm ảnh, còn việc khai thác nâng cao giá trị với quy mô công nghiệp chính là việc của những người ứng dụng công nghệ kỹ thuật số. Sát cánh c với đội ngũ cầm máy, những người này sẽ giải quyết những việc cụ thể góp phần xây dựng hạ tầng môi trường sinh thái nhiếp ảnh ví dụ: trợ giúp người cầm máy tích hợp dữ liệu vào hệ thống lớn, tạo dựng clip trình chiếu triển lãm ảnh, ứng dụng AI trong việc sáng tạo ảnh quảng cáo hay phim giả tưởng … Mặt khác, đội ngũ những người làm công việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số sẽ làm công tác tham mưu cho lãnh đạo và trực tiếp thực hiện kế hoạch số hóa của hội & của ngành.
• Vấn đề thứ tư. Ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong nhiếp ảnh không thể chỉ thực hiện trong phạm vi và qui mô hoạt động của các hội mà cần tính đến việc số hóa nhiếp ảnh trong phạm vi toàn thành phố, địa phương - tất cả những nơi sẽ tổ chức triển lãm, quảng cáo, công bố hình ảnh. Môi trường sinh thái quan trọng bậc nhất của nhiếp ảnh là mạng thông tin, báo chí, truyền hình … Các lĩnh vực này sẽ được hưởng lợi lớn lao khi nhiếp ảnh ứng dụng dụng công nghệ kỹ thuật số. Trong các cuộc trưng bày triển lãm, các phóng viên đài báo sẽ không còn phải quay chụp từng tấm hình như trước nữa. Tất cả sẽ được làm việc qua các file ảnh và còn rất nhiều tiện ích khác.
Việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số với lợi ích cả về chính trị, xã hội và kinh tế, văn hóa xã hội thực sự cấp thiết đối với nhiếp ảnh nói chung. Tuy là có nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhưng vấn đề này mang tính tất yếumà các hội nhiếp ảnh cần thực hiện trong nhiệm kỳ tới.

