Ngày 26/4, UBND tỉnh Cà Mau tổ chức Hội thảo “Kết nối sản xuất, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị lúa gạo góp phần thực hiện đề án phát triển bền vững 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao tại Cà Mau”.
Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử cho biết, hội thảo là diễn đàn quan trọng để các bên cùng nhìn nhận thực trạng và đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm tăng cường liên kết sản xuất – tiêu thụ ngành hàng lúa gạo trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Đồng thời, để tìm ra giải pháp thật sự hiệu quả, thiết thực để nâng cao giá trị hạt gạo, xây dựng thương hiệu gạo không chỉ của tỉnh Cà Mau mà còn của các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Theo ông Sử, Cà Mau là địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế trong phát triển ngư – nông – lâm nghiệp. Mặc dù nổi tiếng về thế mạnh thủy sản, nhưng diện tích lúa tại tỉnh Cà Mau hiện có hơn 185.000 ha (trong đó khoảng 50% diện tích lúa - tôm), sản lượng tương đương 1,8 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, chỉ mới thực hiện liên kết khoảng 16,7% sản lượng. Việc phá vỡ hợp đồng, hợp tác lỏng lẻo, không đủ tính pháp lý vẫn phổ biến. Hạ tầng, logistics, cơ giới hóa còn chưa đồng bộ.
Việc triển khai các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, lúa an toàn, lúa hữu cơ và đặc biệt là các mô hình lúa giảm phát thải thuộc Đề án 01 triệu ha lúa bước đầu mang lại hiệu quả rõ nét. Tỉnh Cà Mau đăng ký với Bộ NN-MT 54.680ha đến năm 2030, nhưng hiện nay mới triển khai khoảng 1.380ha. Quy mô thực hiện còn hạn chế, liên kết tiêu thụ trong mô hình vẫn chưa ổn định.

Tiến sĩ Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn cho rằng, trong suốt nhiều năm qua, nền nông nghiệp Việt Nam luôn phải đối mặt với nghịch lý cố hữu là điệp khúc “được mùa, rớt giá” và nỗi lo thường trực về chi phí đầu vào tăng cao. Nguyên nhân sâu xa đến từ phương thức sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết và chưa thực sự gắn kết với tín hiệu thị trường. Trong bối cảnh đó, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị – hình thức hợp tác giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – đã trở thành xu thế tất yếu và là lời giải căn cơ cho bài toán phát triển nông nghiệp bền vững.
Đáng lo là tình trạng “bẻ kèo” trong liên kết tiêu thụ lúa gạo. Doanh nghiệp còn e ngại ký hợp đồng dài hạn 3–5 năm do rủi ro thị trường và sự thiếu ổn định từ phía người sản xuất. Tập quán sản xuất tự do, tâm lý muốn “bán tiền liền”, thích “giá lướt sóng” của nông dân vẫn còn phổ biến, gây ra tình trạng “bẻ kèo” khi giá thị trường biến động.

“Để giải quyết bài toán “bẻ kèo” trong liên kết tiêu thụ lúa gạo cần áp dụng mô hình đã được kiểm chứng: Hợp đồng nguyên tắc cho cả giai đoạn dự án, kèm Phụ lục hợp đồng trước mỗi vụ/lứa sản xuất để chốt giá, sản lượng, chất lượng và cơ chế chia sẻ rủi ro.
Đồng thời phát huy bảo hiểm nông nghiệp theo Nghị định 58/2018/NĐ-CP với các sản phẩm bảo hiểm tôm – lúa đặc thù và truy xuất nguồn gốc điện tử”, tiến sĩ Trần Minh Hải chia sẻ.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã chỉ ra thực trạng, thuận lợi, khó khăn thách thức trong chuỗi giá trị lúa gạo và mối liên kết 4 nhà (nhà nông dân, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nước) của Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của tỉnh Cà Mau nói riêng. Bên cạnh đó, đề xuất giải pháp để tháo gỡ các điểm nghẽn như: vấn đề thực hiện hợp đồng; khó khăn về tín dụng; phân tích, dự báo thị trường nông sản; vai trò của doanh nghiệp đầu tàu; năng lực của các HTX; thị trường tín chỉ carbon…

Ông Lâm Hoàng Ân, Phó chủ tịch UBND xã Vĩnh Thanh chia sẻ, trong thời gian qua, nông nghiệp xã Vĩnh Thanh đã có bước chuyển biến tích cực theo hướng chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất theo chuỗi giá trị. Địa phương đã chủ động kết nối, thu hút doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, hình thành mối liên kết giữa Nhà nước, Nhà nông, Nhà khoa học và doanh nghiệp. Việc liên kết với các doanh nghiệp và hợp tác xã trong cung ứng vật tư đầu vào và bao tiêu sản phẩm đã góp phần ổn định đầu ra, nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro thị trường.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nông nghiệp xã vẫn còn tồn tại những điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Phương thức sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành được vùng nguyên liệu tập trung đồng nhất, gây khó khăn trong cơ giới hóa và áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật. Liên kết chuỗi giá trị chưa bền vững, tỷ lệ bao tiêu còn biến động, người dân còn phụ thuộc vào thương lái, tiềm ẩn rủi ro về giá cả.
“Đề nghị tỉnh triển khai hiệu quả chính sách theo Nghị định 98 về liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, hỗ trợ kinh phí xây dựng và nhân rộng các mô hình liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp, hỗ trợ tư vấn xây dựng phương án liên kết, ký kết hợp đồng bao tiêu và ứng dụng khoa học công nghệ. Đồng thời, quan tâm đầu tư hạ tầng phục vụ liên kết như kho trữ, sơ chế, chế biến sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và ổn định đầu ra”, ông Ân nêu ý kiến.
Ở góc nhìn từ HTX, ông Nông Văn Thạch, Chủ tịch HĐQT - Giám đốc HTX nông nghiệp tổng hợp Ba Đình chia sẻ, để thúc đẩy chuỗi liên kết lúa gạo, HTX tập trung vào các giải pháp tăng cường tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho thành viên, huy động nguồn lực đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại đẩy mạnh ứng dụng phần mềm quản lý, truy xuất nguồn gốc. Cùng với đó, xây dựng thương hiệu gạo sạch, gạo hữu cơ của HTX mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua liên kết và xúc tiến thương mại.
“Kiến nghị Ngành chuyên môn tiếp tục hỗ trợ vốn, chính sách ưu đãi cho HTX ứng dụng công nghệ cao. Tăng cường các chương trình đào tạo về chuyển đổi số trong nông nghiệp và hỗ trợ kết nối tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu”, ông Thạch nói.

Cùng với việc tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, nhiều ý kiến cho rằng để thúc đẩy chuỗi liên kết lúa gạo hiệu quả cần hhỗ trợ HTX nông nghiệp nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn thị trường, mở rộng thành viên và dịch vụ cho thành viên. Cùng với đó thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp vào liên kết sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu. Đồng thời hỗ trợ HTX nông nghiệp về đào tạo quản lý, ứng dụng khoa học - công nghệ, đầu tư hạ tầng, máy móc, chuyển đổi số trong sản xuất và tiêu thụ.
Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp liên kết với các HTX nông nghiệp trên cơ sở cùng có lợi; thúc đẩy tín dụng ngân hàng cho vay theo chuỗi giá trị, bảo đảm bằng hợp đồng liên kết. Cùng với đó, tiếp tục tăng cường theo dõi, đánh giá, nhân rộng các mô hình liên kết hiệu quả trên địa bàn tỉnh.

