Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: Giá trị lịch sử và tầm vóc tư tưởng Hồ Chí Minh

Nguyễn Minh Đức |10:25 06/07/2026

(NADS) - Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành ngày 19-12-1946 là một trong những văn kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Không chỉ là lời hiệu triệu toàn dân đứng lên bảo vệ nền độc lập dân tộc vừa giành được, văn kiện còn thể hiện tư tưởng của Người về độc lập dân tộc, quyền tự quyết của quốc gia, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và tinh thần tự lực, tự cường.

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình không ngừng đấu tranh để giành, giữ và bảo vệ độc lập dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, khát vọng độc lập, tự do luôn là giá trị thiêng liêng, là động lực tinh thần to lớn quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc. Bước sang thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, khát vọng đó đã được hiện thực hóa bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Tuy nhiên, ngay từ khi mới thành lập, chính quyền cách mạng đã đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nền kinh tế nước ta kiệt quệ do hậu quả của chế độ thực dân và chiến tranh để lại; nạn đói năm 1945 khiến hàng triệu người thiệt mạng; hơn 90% dân số mù chữ; ngân khố quốc gia gần như trống rỗng. Trong khi đó, các thế lực đế quốc và phản động trong, ngoài nước tìm mọi cách chống phá chính quyền cách mạng non trẻ. Đặc biệt, thực dân Pháp không từ bỏ tham vọng khôi phục ách thống trị ở Đông Dương. Được sự hậu thuẫn của các thế lực đế quốc, Pháp từng bước đưa quân quay trở lại Việt Nam. Từ tháng 9-1945, chiến sự đã nổ ra ở Nam Bộ. Trước tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn giải pháp hòa hoãn nhằm tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài.

Chủ trương hòa hoãn của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ tinh thần yêu chuộng hòa bình và tầm nhìn chiến lược sâu sắc. Người nhận thức rõ rằng đất nước vừa giành được độc lập, lực lượng quân sự còn non yếu, nền kinh tế hết sức khó khăn. Vì vậy, cần tận dụng mọi khả năng để tránh một cuộc chiến tranh bất lợi. Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 là nỗ lực to lớn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm duy trì hòa bình, để nhân dân ta có thời gian củng cố thành quả cách mạng mới giành được. Ngày 31-5-1946, trong bối cảnh đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn, phức tạp sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, “theo mệnh lệnh của Chính phủ và ý chí của quốc dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là nguyên thủ quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên đường thăm Cộng hòa Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. Chuyến thăm của Người là một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng nhất của Chính phủ Việt Nam trong những năm 1945-1946, để cứu vãn nền hòa bình trong khi thực dân Pháp quyết tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa. Trong suốt 86 ngày ở Thủ đô nước Pháp, Người coi đây là một dịp tốt để tranh thủ cảm tình của nhân dân Pháp và thế giới; chủ động, khẩn trương triển khai nhiều hoạt động, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhằm tăng cường tình hữu nghị và đoàn kết quốc tế, sự hiểu biết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, bạn bè và nhân dân các nước trên thế giới.

Tuy nhiên, thực dân Pháp đã liên tục vi phạm các cam kết, đẩy mạnh các hoạt động quân sự và khiêu khích vũ trang tại nhiều địa phương ở nước ta. Trước nguy cơ xung đột qui mô toàn cục ngày càng tăng, ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng M.Moutet, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước như một nỗ lực cuối cũng nhằm cứu vãn nền hòa bình đang bị đe dọa bởi cuộc chiến tranh mà các thế lực thực dân phản động Pháp đang ráo riết triển khai. Ngày 13-12-1946, tức là trước thời điểm Người ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 06 ngày, trả lời phỏng vấn phóng viên Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì để đàm phán hòa bình và khẳng định: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh đủ bằng mọi cách”(1). Khi khả năng thương lượng không thể thực hiện được nữa, mọi cố gắng của Người để cứu vãn cuộc chiến tranh đều bị phía thực dân Pháp từ chối, nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam buộc phải cầm súng đứng lên chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần.

Ngày 18-12-1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ Việt Nam phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, giao quyền kiểm soát thủ đô cho quân đội Pháp. Đây là yêu sách mang tính áp đặt, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia và phủ nhận nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Trước tình thế đó, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!” (2).

Đáp lại Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đồng sức, đồng lòng vùng dậy đấu tranh bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, cuộc chiến đấu giữa vòng vây, nhưng vẫn giữ vững niềm tin chính nghĩa chiến thắng.

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ra đời trong một thời khắc đặc biệt của dân tộc. Nó vừa là lời hiệu triệu chiến đấu, vừa là bản tuyên ngôn về ý chí độc lập dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh. Văn kiện thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và nghệ thuật lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến trong điều kiện vô cùng khó khăn.

Quan trọng hơn, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến phản ánh sự thống nhất giữa khát vọng hòa bình và ý chí bảo vệ độc lập dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh không lựa chọn chiến tranh vì chiến tranh, mà lựa chọn kháng chiến để bảo vệ những giá trị thiêng liêng nhất của dân tộc. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh chính nghĩa to lớn, quy tụ mọi tầng lớp nhân dân tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mở đầu cho một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 là một trong những văn kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Toàn văn Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chỉ vẻn vẹn 197 chữ rất ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị nhưng đanh thép, đã vạch trần âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, tỏ rõ lập trường và nguyện vọng thiết tha với hòa bình của dân tộc ta.

Giá trị nổi bật đầu tiên của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến là sự khẳng định mạnh mẽ ý chí độc lập dân tộc và quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam. Độc lập dân tộc là nội dung xuyên suốt trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 đến khi lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mục tiêu cao nhất mà Người theo đuổi là giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, giành lại quyền tự quyết cho nhân dân Việt Nam. Trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không chỉ là một khẩu hiệu chính trị mà là điều kiện tiên quyết để nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc và phát triển.

Ngay trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” (3). Tuyên bố ấy thể hiện ý chí và khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc sau hàng chục năm đấu tranh gian khổ. Tuy nhiên, nền độc lập vừa giành được đã bị thực dân Pháp đe dọa nghiêm trọng. Trước tình thế đó, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định lập trường kiên định của dân tộc Việt Nam. Trong Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, câu nói: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(4) đã trở thành biểu tượng cho tinh thần yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.

Lời khẳng định ấy mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Trước hết, nó thể hiện quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh rằng độc lập dân tộc là giá trị thiêng liêng, không thể đem ra trao đổi hay đánh đổi bằng bất kỳ lợi ích nào khác. Hòa bình là điều quý giá, nhưng hòa bình phải gắn liền với độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết của dân tộc. Một nền hòa bình dựa trên sự khuất phục hoặc lệ thuộc không phải là mục tiêu mà nhân dân Việt Nam hướng tới.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh giá trị to lớn của tư tưởng đó. Chính tinh thần “thà hy sinh tất cả” đã giúp nhân dân Việt Nam vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua trong những năm đầu kháng chiến. Trong điều kiện lực lượng quân sự còn non trẻ, trang bị thiếu thốn, kinh tế nghèo nàn và bị bao vây tứ phía, nhân dân Việt Nam vẫn giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng bởi họ chiến đấu vì một mục tiêu thiêng liêng: bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Một giá trị lịch sử đặc biệt quan trọng khác của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến là sự phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của cách mạng. Người nhiều lần khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Quan điểm này không chỉ là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam mà còn là sự kế thừa truyền thống cố kết cộng đồng của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử.

Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ rằng thực dân Pháp có ưu thế vượt trội về kinh tế, quân sự và phương tiện chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó, sức mạnh lớn nhất của Việt Nam không nằm ở vũ khí hiện đại mà nằm ở lòng yêu nước và sự đoàn kết của toàn dân. Tinh thần ấy được thể hiện rất rõ trong Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”(5). Điều đó có nghĩa, lực lượng tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là mọi người dân Việt Nam, không phân biệt tuổi tác, giới tính, lương giáo, đảng phái, dân tộc, thành phần giai cấp.

Chính sự đồng thuận rộng lớn trong toàn dân tạo nên sức mạnh giúp nhân dân Việt Nam từng bước vượt qua mọi khó khăn và đi tới thắng lợi. Nhìn rộng hơn, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến đã góp phần củng cố truyền thống đại đoàn kết dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây là một trong những nhân tố quyết định giúp cách mạng Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời tiếp tục phát huy tác dụng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc sau này.

Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc luôn giữ vị trí trung tâm. Đây là mục tiêu xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người, đồng thời là nền tảng để giải quyết mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước. Ngay từ khi còn hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức sâu sắc rằng mọi quyền lợi của nhân dân đều không thể được bảo đảm nếu dân tộc còn sống dưới ách áp bức của chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, Người dành trọn cuộc đời để tìm con đường giải phóng dân tộc. Năm 1920, khi tiếp cận Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, từ đó xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam.

Điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc luôn gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân. Đối với Người, độc lập không phải là sự thay đổi hình thức cai trị mà là điều kiện để nhân dân được làm chủ đất nước và làm chủ cuộc sống của mình. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(6). Chính vì vậy, cuộc kháng chiến được phát động năm 1946 không chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia mà còn nhằm bảo vệ những thành quả cách mạng mà nhân dân đã giành được.

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng không một dân tộc nào có thể giành và giữ được độc lập nếu chỉ trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Sự hỗ trợ quốc tế có ý nghĩa quan trọng, nhưng yếu tố quyết định vẫn là sức mạnh nội tại của dân tộc.

Ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam đứng trước vô vàn khó khăn. Quân đội còn non trẻ, nền kinh tế nghèo nàn, cơ sở vật chất thiếu thốn và gần như không có nguồn viện trợ đáng kể từ bên ngoài. Trong hoàn cảnh ấy, Hồ Chí Minh lựa chọn con đường phát huy nội lực dân tộc. Tinh thần đó được phản ánh trong lời kêu gọi toàn dân tham gia kháng chiến bằng mọi khả năng có thể. “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” (7). Đây không đơn thuần là lời động viên chiến đấu mà còn là biểu hiện sinh động của tư tưởng tự lực, tự cường.

Chính nhờ phát huy tinh thần tự lực, tự cường mà Việt Nam đã từng bước vượt qua khó khăn. Từ những xưởng quân giới nhỏ trong rừng núi Việt Bắc đến các phong trào tăng gia sản xuất, tiết kiệm lương thực, tất cả đều phản ánh nỗ lực tự chủ của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập của mình. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng rằng một cuộc đấu tranh chính nghĩa sẽ nhận được sự ủng hộ của lương tri nhân loại. Thực tế lịch sử cho thấy cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã nhận được sự đồng tình rộng rãi từ các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Điều này góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp Việt Nam đi đến thắng lợi.

Nhìn từ góc độ hiện nay, tư tưởng tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh tiếp tục mang giá trị thời sự sâu sắc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng trở thành nhiệm vụ quan trọng đối với Việt Nam. Đây chính là sự kế thừa và phát triển tinh thần tự cường dân tộc được thể hiện từ Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến năm 1946.

80 năm đã trôi qua, nhưng tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến vẫn còn nguyên giá trị. Văn kiện đã góp phần khơi dậy và phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, chính ý chí độc lập dân tộc, tinh thần đoàn kết toàn dân và niềm tin vào sức mạnh của nhân dân là những nhân tố quyết định giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, những tư tưởng được thể hiện trong Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến tiếp tục mang giá trị thời sự sâu sắc. Đó là yêu cầu kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế hiệu quả; đồng thời khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nguyễn Minh Đức
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Chú thích:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, tập 4, tr.526.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.534.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.3.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.534.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.534.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.64.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.534.


(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Nhiếp ảnh & Đời sống
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: Giá trị lịch sử và tầm vóc tư tưởng Hồ Chí Minh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO