Hơn 21 năm gắn bó với nghề, gần 20 năm chị bán phở với giá 5.000 đồng mỗi bát. Mãi đến giữa năm 2025, khi giá nguyên liệu tăng cao, chị mới điều chỉnh lên 8.000 đồng - con số giữa thời “bão giá” gần như là điều không tưởng. Vậy mà mỗi ngày, quán vẫn tiêu thụ khoảng 100kg bún, phở, 25kg thịt gà, tương đương gần 450 bát. Sức hút ấy đến từ sự bền bỉ và niềm tin mà thực khách dành cho quán nhỏ suốt bao năm.

Không đặt lợi nhuận lên trước
Với giá 8.000 đồng, theo lời chị Chung, quán gần như chỉ hòa vốn. Phần lãi ít ỏi chỉ đến từ những bát 10.000 - 20.000 đồng hoặc khi khách gọi thêm trứng, nước ngọt, món ăn kèm. Khoản lời khiêm tốn ấy lại được dùng để bù cho những bát phở giá thấp bán ra mỗi ngày.
“Mình xác định bán chủ yếu cho học sinh, công nhân và người lao động thu nhập thấp. Lời ít cũng được, miễn sao mọi người có bữa ăn no bụng”, chị chia sẻ.

Điều đáng quý là suốt nhiều năm, chị chấp nhận giữ giá bán 5.000 đồng dù chi phí điện, nước và nguyên liệu đều tăng theo thời gian. Khi buộc phải nâng lên 8.000 đồng mỗi bát, chị đã trăn trở rất nhiều, bởi phần lớn khách quen là học sinh xa nhà, sinh viên trọ học, công nhân tan ca muộn, những người phải chắt chiu từng đồng để trang trải cuộc sống.

Chị Nguyễn Thị Nghĩa, công nhân tại một nhà máy gần đó cho biết: “quán phở giá bình dân này là sự lựa chọn quen thuộc của tôi sau mỗi ca làm, vì lương công nhân thấp, nếu tự nấu cũng tốn kém. Một bát phở 8.000 đồng giúp tôi tiết kiệm được chút tiền gửi về cho gia đình”.

Còn anh Nguyễn Đức Minh, hiện sinh sống tại TP.HCM, mỗi lần về thăm quê đều ghé quán như một thói quen. “Phở ở đây giá rẻ nhưng nước dùng đậm đà, sợi phở mềm vừa phải. Tôi còn đưa bạn bè về ăn để biết đến quán phở đặc biệt này”, anh nói.
Những đêm đỏ lửa sau bát phở bình dân
Ít ai biết phía sau mức giá ấy là những ngày làm việc kéo dài đến rạng sáng. Khi phố đã thưa người, bếp nhỏ trong con ngõ vẫn đỏ lửa, nồi nước dùng vẫn âm thầm sôi.
Mỗi ngày, vợ chồng chị cùng hai con tự tay quán xuyến hầu hết mọi việc: đi chợ từ tinh mơ, sơ chế nguyên liệu, ninh xương, nấu nước dùng, rồi bán hàng, dọn dẹp khi kim đồng hồ đã quá nửa đêm. Công việc lặp lại đều đặn, không ngày nghỉ, không tiếng thở dài.
Quán mở cửa từ 17 giờ chiều đến 2 giờ sáng hôm sau - khung giờ phục vụ đủ mọi người: học sinh tan trường, công nhân hết ca, người lao động trở về sau một ngày dài mưu sinh. Ai cũng có thể tìm thấy ở đó một bát phở nóng để lót dạ trước khi về nhà.

Đã có thời điểm khó khăn, gia đình từng thuê hai, ba nhân viên nhưng rồi phải nợ lương vì lợi nhuận quá thấp. Sau này, khi mở rộng thêm mặt bằng bên cạnh, chị mới dám thuê lại một người phụ việc. “Mọi chi tiêu đều phải tính toán kỹ lưỡng, bởi chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể ăn vào phần lời vốn đã rất mỏng”, chị bộc bạch.

Sau khi trừ hết chi phí, thu nhập của cả gia đình bốn người chỉ tương đương tiền công của một thợ xây. Ngôi nhà nhỏ rộng 30m² đã cũ nhiều năm vẫn chưa thể sửa sang. Nhắc đến điều đó, chị chỉ cười hiền: “Bán hàng ăn lãi thấp lắm, nhất là khi mình giữ giá thấp để hỗ trợ người khác”.
Hành trình mưu sinh của chị bắt đầu từ năm 1993 với một quán cơm nhỏ. Đến năm 2005, hai vợ chồng chuyển hẳn sang bán phở và gắn bó đến nay. Hai mươi năm trôi qua, bếp lửa ấy vẫn chưa một lần tắt.
Chữ “tâm” thắp sáng quán nhỏ
Điều chị Chung chưa từng thỏa hiệp là chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Mọi nguyên liệu mua về đều được chọn lựa từ các mối quen, có nguồn gốc rõ ràng. Nồi nước dùng phải ninh thật kỹ, sôi già mới được phục vụ. “Khách có vội mà nước chưa đạt, tôi cũng không bán”, chị nói dứt khoát.

Nước uống cho khách được gia đình tự tay đun sôi thay vì lấy sẵn bên ngoài. Với chị, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể đánh mất uy tín đã gây dựng suốt nhiều năm. Nhưng trên tất cả, đó là cái tâm của người nấu ăn, thứ không thể đong đếm bằng tiền.
Có lẽ vì vậy mà dù giá rẻ, bát phở ở đây vẫn đầy đặn: đủ thịt, đủ bánh, đủ để no lòng. Không phải một bát phở “cho có”, mà là một bữa ăn trọn vẹn. Nhiều khách quen gắn bó hàng chục năm; có người từ thủa còn là học sinh, nay đã lập gia đình, thỉnh thoảng vẫn ghé lại quán như tìm về một phần ký ức.

Với chị Chung, lợi nhuận chưa bao giờ là điều duy nhất giữ quán tồn tại. Thứ giữ quán sáng đèn suốt hơn hai mươi năm, chính là cảm giác nhẹ lòng khi thấy học sinh rời quán với bát phở còn nghi ngút khói, hay những người công nhân tan ca muộn có một bữa ăn nóng trước khi trở về nhà.
Đêm xuống, khi phố dần thưa người, quán nhỏ trong ngõ vẫn đỏ lửa. Nồi nước dùng sôi liu riu, hơi khói bốc lên quyện vào ánh đèn vàng ấm. Trong tiếng gọi: “Chị ơi cho em bát 8.000 đồng”, người ta không chỉ nghe âm thanh của một hàng quán mưu sinh, mà còn nghe cả nhịp bền bỉ của một gia đình đã chọn giữ chữ “tâm” làm vốn liếng suốt hơn hai thập kỷ.

