TIẾNG NGÂM KIỀU BÊN HIÊN NHÀ

Hoàng An|13:05 22/07/2026

Tôi thường thấy ông ngày nắng cũng như ngày mưa. Người thương binh già ngồi đan chổi, vót tre làm quạt bên hiên nhà, rồi cất giọng ngâm Kiều. Tiếng ngâm chậm, khàn và đứt quãng như đi qua nửa thế kỷ bom đạn. Tôi hiểu, có những ký ức không bao giờ ngủ yên…

anh-minh-hoa.jpg
Hình minh họa

Người lính đi qua lửa đạn

Có những con người khi sống chẳng mấy ai biết đến, đến lúc mất đi cũng chỉ có vài vòng hoa của người thân. Họ ra đi lặng lẽ như chiếc lá cuối mùa. Nhưng có những cuộc đời, càng nghĩ càng thấy đáng kính, bởi phía sau dáng người bình dị ấy là cả một chặng đường dài đầy máu, nước mắt và nghị lực.

Tôi biết Minh Trân từ khi tôi còn là đứa trẻ. Ông ở trong một căn nhà nhỏ ở làng Trung Tín xã Sơn Thủy huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình. Trời mưa cũng như nắng bên hiên nhà ấy, ông thường ngồi vót tre đan chổi, mắt nhìn xa xăm. Rồi bất chợt, ông cất giọng ngâm Kiều. “Trăm năm trong cõi người ta…Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau…”

Giọng ông không hay, cũng không cố ngân nga như người biết hát. Đó chỉ là giọng ngâm của một ông già đã đi qua gần hết cuộc đời. Thỉnh thoảng, đến một câu nào đó, giọng ông chùng xuống, đôi mắt đỏ hoe. Tôi biết lúc ấy ông không còn ngâm Kiều nữa, mà đang nhớ về những đồng đội đã nằm lại ở chiến trường Trị Thiên hơn nửa thế kỷ trước.

Minh Trân sinh năm 1947, trong một làng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Bình. Chưa đầy nửa tuổi, cha ông mất vì bạo bệnh. Năm mẹ con sống trong căn nhà tranh nhỏ bên cồn cát trắng. Người mẹ góa ngày ngày gánh lúa thuê, mót khoai, mót sắn nuôi đàn con.

Trân là con út. Tuổi thơ của ông gắn với những bữa cơm độn khoai, những đêm nằm nghe gió Lào rít qua mái tranh và tiếng mẹ ho khan sau mỗi ngày làm đồng.

Ba người anh và chị cả lần lượt nhập ngũ. Căn nhà vốn đã nghèo càng thêm hiu quạnh. Mỗi lần nhận được thư từ chiến trường gửi về, người mẹ lại lau nước mắt rồi cẩn thận cất vào chiếc hòm gỗ đã bạc màu. Lớn lên trong cảnh ấy, Minh Trân không nghĩ đến một cuộc đời khác ngoài việc cầm súng.

Đầu năm 1967, ông cưới người con gái cùng làng. Đám cưới chỉ có vài mâm cơm đơn sơ. Quà cưới đáng giá nhất là chiếc chăn bông mẹ dành dụm nhiều năm mới may được.

Chưa đầy một tháng sau, giấy gọi nhập ngũ đến. Sáng hôm lên đường, người vợ trẻ lặng lẽ vá lại chiếc ba lô đã cũ. Người mẹ dúi vào tay con trai nắm gạo rang và dặn:

Ráng sống mà trở về nghe con. Minh Trân cười. Con đi đánh giặc rồi sẽ về.

Ông không biết rằng lời hứa giản dị ấy phải mất tám năm mới thực hiện được.

Sau ba tháng huấn luyện, Minh Trân được biên chế vào đơn vị trinh sát đặc công thuộc chiến trường Trị Thiên đường 9 Nam Lào.

Đó là đơn vị luôn đi đầu. Họ là những người mở đường, luồn sâu vào lòng địch, cắt hàng rào, phá bãi mìn, xác định hỏa điểm, dẫn đường cho bộ đội chủ lực tiến công.

Mỗi chuyến đi đều có thể là chuyến đi cuối cùng. Có lần, tổ trinh sát bốn người của Minh Trân phải bò suốt gần hai cây số dưới lớp cỏ tranh để tiếp cận một cứ điểm. Ban ngày, trực thăng HU-1A quần đảo trên đầu. Ban đêm, pháo sáng thả trắng cả khu rừng.

Bốn con người nằm ép sát mặt đất suốt hơn ba mươi giờ, không dám ho, không dám trở mình. Đến khi hoàn thành nhiệm vụ, một đồng đội đã ngất lịm vì khát.

Lại có trận đánh mở đường ở vùng Tân Lâm, Cam Lộ.

Tiểu đội vừa cắt được hàng rào thứ hai thì địch phát hiện. Tiếng còi báo động xé màn đêm. Đạn đại liên từ các lô cốt bắn như xé rừng. Một chiến sĩ đi trước trúng đạn hy sinh ngay trên hàng rào thép gai. Không ai được phép dừng lại. Minh Trân cùng đồng đội vừa đánh trả, vừa kéo thi thể người bạn vào hố bom rồi tiếp tục mở cửa cho đơn vị phía sau.

Sau này nhớ lại, ông chỉ nói ngắn gọn: Hồi ấy chẳng ai kịp sợ. Chỉ nghĩ làm sao mở được đường. Chiến trường Trị Thiên đường 9 Nam Lào những năm ấy khốc liệt đến mức cây rừng cũng bị bom cày bật gốc. Ban ngày máy bay gầm rú, ban đêm pháo sáng treo kín bầu trời. Có những cánh rừng sáng trắng như ban ngày. Năm 1968, Minh Trân được giao làm Tiểu đội trưởng trinh sát đặc công trong trận đánh mở cửa vào cứ điểm sân bay Tà Cơn. Đó là trận đánh lớn nhất trong đời binh nghiệp của ông. Suốt hơn một tuần, tiểu đội liên tục bám sát mục tiêu. Ban ngày ẩn mình trong hầm cá nhân hoặc dưới những gốc cây cháy sém vì bom. Ban đêm lại bí mật cắt rào, trinh sát từng hỏa điểm, dẫn đường cho các mũi tiến công. Địch chống trả điên cuồng. Pháo từ các cao điểm nã xuống như mưa. Máy bay phản lực gầm rít trên đầu. Đất đá tung lên mù mịt. Đồng đội lần lượt bị thương, rồi hy sinh. Nhưng không ai rời vị trí. Đêm thứ tám của trận đánh. Khoảng gần nửa đêm.

Tiểu đội của Minh Trân nhận lệnh luồn sâu thêm một lần nữa để mở hành lang cho đơn vị phía sau. Họ chỉ còn cách tuyến phòng thủ của địch vài chục mét. Minh Trân vừa bò qua một hố bom thì bất ngờ một tiếng nổ dữ dội xé toạc màn đêm. Một quầng lửa đỏ rực bùng lên. Sức ép khủng khiếp hất tung cả người ông lên không trung. Đất, đá, khói súng và tiếng la hét hòa vào nhau. Rồi tất cả chìm trong bóng tối.

Người trở về từ cõi chết

Không ai biết Minh Trân đã nằm giữa ranh giới của sự sống và cái chết bao lâu.

Khi mở được mắt, trước mặt ông chỉ là một màu trắng của trần bệnh viện dã chiến. Mùi thuốc sát trùng quyện với mùi máu khô, mùi băng gạc và tiếng rên khe khẽ của những thương binh nằm xung quanh. Ông định cử động nhưng toàn thân như bị hàng chục mũi kim đâm vào. Ông cúi nhìn xuống. Chiếc chân trái đã không còn.

Từ đầu xuống ngực, từ lưng đến cánh tay, băng trắng quấn chằng chịt. Những mảnh đạn găm sâu trong lồng ngực và trên đỉnh đầu không thể lấy hết ra. Mỗi nhịp thở đều đau buốt như có ai cứa dao vào da thịt. Một bác sĩ quân y ghé sát tai ông, nói nhỏ: Đồng chí còn sống là một điều kỳ diệu. Ông nhắm mắt lại. Trong đầu chỉ hiện lên hình ảnh người mẹ già, người vợ trẻ và căn nhà tranh nơi quê nghèo Quảng Bình. Những tháng ngày sau đó là chuỗi ngày dài tưởng như vô tận. Hết bệnh viện này đến trại điều dưỡng khác. Từ tuyến trước chuyển về tuyến sau. Những ca mổ nối tiếp nhau.

Có những mảnh đạn lấy được, nhưng cũng có những mảnh nằm quá sâu, bác sĩ đành để lại vì nếu phẫu thuật sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ông tập ngồi. Rồi tập chống nạng.

Có những buổi sáng vừa đứng lên đã ngã. Ngã rồi lại đứng dậy. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo.

Có lúc ông nghĩ, giá như mình đã nằm lại ở Tà Cơn cùng đồng đội thì có lẽ nhẹ lòng hơn.

Nhưng rồi mỗi lần nhìn những người thương binh mất cả hai chân, mất hai tay hay đôi mắt, ông lại tự nhủ mình vẫn còn may mắn. Ít nhất, ông vẫn còn được sống.

Từ năm 1968 đến cuối năm 1974, Minh Trân sống trong các khu điều dưỡng dành cho thương binh. Những ngày ấy, ngoài giờ tập phục hồi chức năng, ông gần như chỉ có sách làm bạn. Thư viện của trại điều dưỡng không nhiều sách, nhưng cuốn nào ông cũng đọc.

Ông say mê Truyện Kiều của Nguyễn Du. Rồi đến Thủy Hử, Tam quốc diễn nghĩa, Lưu Dung xử án, những tập thơ cổ, những cuốn tiểu thuyết viết về con người và số phận. Đọc đến đâu, ông nhớ đến đó. Có những đoạn trong Truyện Kiều, ông thuộc làu từ lúc nào không hay. Những đêm trái gió trở trời, vết thương nhức buốt không ngủ được, ông lại khe khẽ ngâm: “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…”

Có lúc lại đọc: “Bây giờ trâm gãy bình tan, Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân…”

Đồng đội nằm cạnh nghe ông ngâm Kiều, có người cười bảo: Cậu lính đặc công mà lại mê Nguyễn Du hơn mê súng. Ông cười hiền. Đọc Kiều để thấy mình còn biết thương người. Chiến tranh lấy đi quá nhiều. Nếu trong lòng không còn chút văn chương thì con người dễ trở nên khô cứng lắm. Những lời ấy, nhiều năm sau, các con ông vẫn còn nhớ.

Ở quê nhà, mọi người lại sống trong một câu chuyện khác. Sau trận đánh năm 1968, đơn vị báo về rằng Minh Trân mất tích. Không thư từ. Không tin tức. Không ai biết ông còn sống hay đã hy sinh. Người mẹ ngày nào cũng ngồi trước ngõ nhìn về phía con đường làng. Người vợ trẻ ban đầu vẫn nuôi hy vọng. Một năm. Rồi hai năm. Hy vọng dần trở thành tuyệt vọng. Ai cũng bảo: “Chắc nó hy sinh rồi…” Người phụ nữ mới ngoài hai mươi tuổi ôm nỗi đau trở về nhà ngoại. Sau này, trước sự khuyên nhủ của gia đình, chị đi thêm bước nữa. Cuộc đời người đàn bà thời chiến nhiều khi không có quyền lựa chọn.

Không ai trách chị. Chỉ có chiến tranh là có lỗi. Cuối năm 1974, Minh Trân xuất ngũ.

Trên vai chỉ là chiếc ba lô bạc màu. Trong tay là cuốn sổ thương binh hạng nhất mất sức 75%. Tài sản quý giá nhất Nhà nước cấp cho ông là một chiếc máy khâu đạp chân để học nghề mưu sinh. Ngày chống nạng bước vào cổng làng, rất nhiều người sững sờ. Họ từng thắp hương cho ông. Từng nghĩ ông đã nằm lại đâu đó giữa chiến trường Trị Thiên. Người mẹ ôm lấy con trai mà khóc như chưa từng được khóc. Còn Minh Trân chỉ lặng lẽ nhìn quanh. Căn nhà cũ vẫn còn. Cây mít hàng cau trước sân vẫn còn. Nhưng tuổi trẻ thì đã gửi lại chiến trường. Ít lâu sau, ông gặp lại người vợ cũ. Cuộc gặp không có nước mắt trách móc. Cả hai đều hiểu, những gì đã xảy ra không phải vì họ thay lòng, mà vì chiến tranh quá khắc nghiệt. Người đàn bà ấy nói trong nghẹn ngào:

Em cứ nghĩ anh không còn…

Minh Trân im lặng rất lâu. Ông chỉ đáp: Anh còn sống là may rồi. Thế thôi. Không một lời oán trách. Không một câu nặng nhẹ. Những người từng đi qua chiến tranh thường bao dung với nhau như thế. Sau nhiều biến cố, bằng sự cảm thông của hai bên gia đình, họ lại trở về bên nhau. Không có đám cưới. Không có sính lễ. Chỉ là một bữa cơm đạm bạc với vài người thân. Nhưng đó mới là ngày bắt đầu thật sự của cuộc đời Minh Trân.

Ông thường bảo: “Đánh giặc khó một. Làm người sau chiến tranh còn khó gấp mười.”

Ông hiểu từ nay, kẻ thù không còn là bom đạn. Kẻ thù là đói nghèo. Là những cơn đau hành hạ mỗi khi trời trở gió. Là ánh mắt thương cảm của người đời dành cho một thương binh cụt chân. Và hơn hết, là trách nhiệm gây dựng lại một mái ấm đã bị chiến tranh xé nát. Ông chống nạng bước vào cuộc chiến mới bằng tất cả sự lặng lẽ của một người lính từng đi qua cái chết. Ông không hề biết rằng, chiến thắng lớn nhất đời mình không nằm ở chiến trường Đường 9 Nam Lào hay Tà Cơn. Mà đang đợi ông ở những năm tháng rất đỗi bình thường phía trước, nơi có tiếng máy khâu lạch cạch trong đêm, có những mùa lúa chín trên đồng quê, có tiếng trẻ con ê a học bài và có những câu Kiều vẫn ngân lên bên hiên nhà mỗi khi người lính già nhớ về đồng đội.

Mùa quả ngọt

Cuộc đời sau chiến tranh của Minh Trân không có những bản anh hùng ca. Ông cũng chưa bao giờ kể nhiều về những trận đánh mình từng đi qua. Với ông, chiến tranh đã lùi lại phía sau. Điều ông phải đối mặt hằng ngày là cái đói, cái nghèo và trách nhiệm dựng lại một mái ấm tưởng như đã tan vỡ.

Chiếc máy khâu là tài sản quý giá nhất khi ông xuất ngũ. Ban ngày, ông nhận may vá quần áo cho bà con trong làng. Tiếng máy khâu lạch cạch vang lên từ sáng đến tối. Một chiếc áo, một cái quần chỉ được vài đồng công. Có hôm ngồi còng lưng cả ngày, số tiền kiếm được cũng chỉ đủ mua vài lon gạo. Ông hiểu, chỉ nghề may thôi thì không thể nuôi nổi một gia đình. Thế là người thương binh cụt chân ấy lại bước vào một cuộc chiến khác – cuộc chiến với đói nghèo.

Những mảnh rẫy nhỏ sau nhà được ông và vợ khai phá từng vạt, rồi dần hết cả quả đồi. Những mảnh ruộng cồn Đường Ống, Phốc Phù, Cây Đa, Ruộng Bện… được ông phở hoang. Chiếc nạng gỗ lún sâu trên nền bùn sau mỗi bước đi. Những ngày, trồng cây cấy lúa, người ta thường thấy ông chống nạng giữa rẫy, giữa đồng, tay vẫn thoăn thoắt trồng cây, cấy từng bụi mạ. Trời nắng chang chang, mồ hôi chảy ướt lưng áo. Trời mưa, chiếc quần nâu lấm đầy bùn đất. Ngoài rẫy và ruộng lúa, ông nuôi thêm một con bò. Vài năm sau, đàn bò sinh sản, bán được con bê nào, ông đều cất riêng số tiền ấy vào một chiếc hộp gỗ nhỏ. Ông bảo vợ: Để dành cho tụi nhỏ đi học. Sau bò là đàn heo. Rồi mấy chục con gà. Mùa nào thức ấy. Việc gì làm ra đồng tiền là ông làm. Những ngày nông nhàn, ông vào rừng chặt đót, chặt lá muồng về bó chổi. Tre già được chẻ thành từng nan nhỏ để đan quạt. Mùa cau rụng, ông nhặt từng bẹ mo đem phơi khô rồi làm quạt mo cau bán ở chợ quê Mỹ Đức. Đêm xuống, khi cả nhà đã ngủ, ánh đèn dầu trong căn nhà nhỏ vẫn còn le lói. Đó là lúc Minh Trân lại ngồi bên chiếc máy khâu. Tiếng bàn đạp đều đều như nhịp thời gian. Có những đêm làm đến gần sáng. Người vợ thương chồng, khẽ bảo: Ông nghỉ chút đi, mai làm tiếp. Ông chỉ cười: Mình nghỉ thì mấy đứa nhỏ lấy gì đi học.

Đó là câu nói các con ông nhớ suốt đời. Giữa năm 1975, căn nhà nhỏ vang tiếng khóc của người con trai đầu lòng. Nhìn con ngủ ngon trong chiếc nôi tre, Minh Trân lặng lẽ đặt bàn tay chai sần lên trán con. Ông thì thầm: Cha không để con cầm súng như cha nữa.

Năm 1976, thêm một cô con gái ra đời.

Năm 1978, gia đình có thêm một cậu con trai. Năm 1983, một cô con gái kháu khỉnh cất tiếng khóc đầu tiên. Đến năm 1989, cậu con trai út chào đời, khép lại mái ấm với năm người con – ba trai, hai gái. Đông con, nhà càng thêm chật chội. Nhưng tiếng cười cũng nhiều hơn. Có những hôm bữa cơm chỉ có rau luộc, bát cà muối và ít cá khô. Minh Trân luôn gắp phần ngon nhất cho các con. Ông và vợ ăn sau cùng. Nhiều khi chỉ chan nước rau với cơm. Các con lớn dần trong sự thiếu thốn, nhưng chưa bao giờ thiếu lời dạy của cha. Ông hay đánh mắng, dạy bảo. Mỗi tối, sau khi làm xong việc, ông lại gọi các con ngồi quanh chiếc bàn gỗ cũ. Ông kể chuyện đồng đội. Kể chuyện lòng dũng cảm. Kể chuyện con người phải biết sống tử tế. Rồi bất chợt ông cầm cuốn Truyện Kiều đã sờn gáy lên đọc. Có đoạn ông không cần mở sách. Ông ngâm chậm rãi: “Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Lũ trẻ ngày ấy chưa hiểu hết ý nghĩa những câu thơ. Nhưng giọng ngâm trầm ấm của cha đã theo chúng suốt tuổi thơ. Những hôm nhớ đồng đội, ông lại ngồi một mình ngoài hiên. Ấm trà xanh bốc khói. Tiếng côn trùng rả rích trong đêm. Ông ngâm Kiều rất nhỏ. Có khi ngâm đến nửa chừng thì lặng im.

Người vợ biết lúc ấy ông đang nhớ về những người đã nằm lại ở Tà Cơn.

Bà không nói gì. Chỉ lặng lẽ châm thêm nước trà. Sự im lặng ấy còn sâu hơn mọi lời an ủi. Điều khiến bà con trong làng khâm phục Minh Trân không phải vì ông từng là người lính đặc công, mà vì cách ông nuôi dạy con. Ông luôn nói: Nhà mình nghèo tiền, nhưng không được nghèo chữ. Thế là từng đứa con lần lượt lớn lên. Người con đầu thi đỗ đại học .Ngày nhận giấy báo nhập học, Minh Trân cầm tờ giấy rất lâu. Ông cười mà nước mắt cứ chảy. Ít năm sau, người con thứ hai đỗ ngành Thương mại. Rồi người con thứ ba theo học Ngữ văn - Báo chí. Người con thứ tư trở thành kỹ sư cầu đường.

Đến cậu con trai út cũng bước vào giảng đường với ngành quản lý đất đai Ngày ấy, ở vùng quê nghèo, một gia đình có một người học đại học đã là niềm tự hào. Còn gia đình Minh Trân có đến năm người con đều vào đại học thì ai cũng nể phục. Có người hỏi: Ông lấy đâu ra tiền nuôi tụi nhỏ học? Ông chỉ cười hiền:

Tiền nằm ngoài ruộng, ngoài chuồng bò, trong bó chổi, trong cái quạt nan và dưới bàn đạp máy khâu đó thôi. Nói xong, ông lại cười. Nụ cười hiền như chính cuộc đời ông.

Những năm cuối đời, sức khỏe Minh Trân yếu dần. Những mảnh đạn còn sót lại trong cơ thể hành hạ ông mỗi khi trái gió trở trời. Vết thương cũ ở chân cụt đau nhức suốt đêm.

Ông không còn đủ sức làm việc. Các con lần lượt đón cha về ở cùng. Cuối cùng, ông chọn sống với người con thứ ba ở miền Nam. Căn nhà không lớn. Trước hiên có mấy chậu hoa giấy. Buổi sáng, ông tưới cây. Buổi chiều, ngồi uống trà. Có khách đến, ông ít kể về mình. Chỉ hỏi thăm quê hương. Hỏi mùa lúa năm nay có được không. Hỏi những đồng đội còn ai, mất ai. Chiều nào cũng vậy, tiếng ngâm Kiều lại cất lên bên hiên nhà.

Không còn rõ ràng như trước. Có câu nhớ. Có câu quên. Nhưng tình yêu dành cho văn chương và ký ức về đồng đội thì chưa bao giờ phai.

Một ngày năm 2024, người thương binh ấy lặng lẽ nhắm mắt.

Không ồn ào. Không kèn trống. Không những lời ca ngợi dài dòng. Chỉ có năm người con đứng quanh linh cữu cha. Mỗi người một nghề nghiệp. Mỗi người một cuộc đời.

Nhưng tất cả đều được nuôi lớn từ đôi bàn tay chai sần của một người cha chỉ còn một chân.

Trong căn nhà nhỏ năm xưa, cuốn Truyện Kiều cũ vẫn nằm trên đầu giường. Trang sách còn kẹp dở ở câu: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa…”

Có lẽ, cuộc đời Minh Trân cũng giống như câu thơ ấy. Ông chưa bao giờ trách số phận.

Chiến tranh lấy đi tuổi trẻ, một phần thân thể và biết bao đồng đội. Nhưng ông đã tự mình giành lại cuộc đời bằng lao động, bằng sự nhẫn nại và bằng niềm tin vào con chữ.

Nếu chiến công của người lính năm xưa là mở đường cho đồng đội tiến lên giữa mưa bom bão đạn, thì chiến công lớn nhất của Minh Trân sau chiến tranh là mở một con đường khác – con đường học vấn cho năm người con bước tới tương lai.

Ông ra đi lặng lẽ như bao người lính trở về từ chiến tranh. Không tượng đài. Không ánh hào quang. Chỉ còn tiếng ngâm Kiều như vẫn đâu đây dưới mái hiên cũ, hòa cùng tiếng gió quê và ký ức của những người còn ở lại. Đó là di sản đẹp nhất mà người thương binh Minh Trân để lại cho gia đình và cho cuộc đời.


(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Nhiếp ảnh & Đời sống
TIẾNG NGÂM KIỀU BÊN HIÊN NHÀ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO