Loạt bài đọc lại nguồn mạch ấy qua ba lớp: người làm ngân hàng trong thơ, tiếng hát trong ngôi nhà chung, và những câu chuyện nghề được truyền từ đời này sang đời khác.

Loạt bài được đặt trong dòng chảy của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Kết luận số 84-KL/TW tiếp tục thực hiện nghị quyết ấy, và Quyết định số 1858/QĐ-NHNN ngày 18/8/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng. Đọc lại nguồn mạch văn nghệ của một ngân hàng dưới ánh sáng ấy, có thể thấy rõ hơn một điều: văn học nghệ thuật không phải thứ trang trí bên lề nghề tiền tệ, mà là một phần của nền tảng tinh thần, của sức mạnh nội sinh mà Đảng ta đang kêu gọi khơi dậy.
Kỳ 1 - Người làm ngân hàng trong thơ
Hai tuyển tập thơ, cách nhau năm năm, phần lớn do chính cán bộ ngân hàng viết. Đọc kỹ, đó không chỉ là thơ về nghề, mà là một bức chân dung đạo đức của người làm nghề - được vẽ trước cả khi tổ chức kịp gọi tên những giá trị của mình.
“Ít thi liệu hơn cả biển và trời”
Đại tá, nhà thơ Đỗ Trung Lai, khi viết lời giới thiệu cho tuyển tập “Có một ngân hàng như thế” của BIDV, kể rằng có người bạn thơ phải viết về biển và trời đã kêu khó, vì biển thì căn bản chỉ có nước, sóng, tàu thuyền; trời thì chỉ mây, gió, sấm, chớp. Rồi ông nói thẳng: “Ngân hàng, thậm chí còn ít ‘thi liệu’ hơn biển và trời nhiều. Cho nên, viết về ngân hàng lại càng khó.”
Nhưng ông không dừng ở đó. Ông không khen tập thơ là hay; ông gọi nó là quý, quý trước hết bởi tấm lòng của những người viết, và kết bằng một câu: “Rất ít ngành có được một tập thơ quý như thế này”.
Nhà thơ Vũ Quần Phương, Chủ tịch Hội đồng thơ, Hội Nhà văn Việt Nam, thì đặt ra một mệnh đề có sức soi chiếu xa hơn một tập sách: “Ở đâu có vui buồn thì ở đó có thơ. Có thơ với các con số trừu tượng phải là người trong cuộc. Với họ, đằng sau các con số, các biểu đồ, các tính toán; là hạnh phúc, là cuộc sống của đồng bào, là sự đổi thay, dựng xây; là vẻ đẹp và sự thịnh vượng của đất nước”.
Hai nhận định ấy, đặt cạnh nhau, trao cho ta một chiếc chìa khóa. Nếu nghề ngân hàng tự nó khô khan, mà thơ về người ngân hàng vẫn đáng đọc, thì chất thơ không nằm ở nghề, mà nằm ở người làm nghề. BIDV là một trong số rất ít tổ chức tài chính Việt Nam có tới hai tuyển tập thơ được xuất bản chính thức: “Con thuyền đỏ - cánh buồm xanh” (2002) và “Có một ngân hàng như thế” (2007). Cả hai phần lớn không do nhà thơ chuyên nghiệp viết, mà do kế toán viên, cán bộ tín dụng, kiểm ngân. Họ vừa là tác giả, vừa là nhân vật. Họ tự tạc lấy chân dung mình.
Năm cách gọi tên và một chữ “nghĩa tình” đến sớm
Một trong những đoạn quý nhất về con người BIDV lại nằm ở lời giới thiệu của nhà thơ Bằng Việt. Đọc xong tập thơ, ông viết rằng những trạng thái tâm lý, tình cảm cụ thể và đa dạng ấy làm ta thông cảm hơn, kính trọng hơn, yêu mến hơn những con người biết làm chủ đồng tiền. Rồi ông gọi tên họ: người “nâng bước cho người đến ước mong”; người “gieo những mầm xanh”; người “ca lên lời ca từ đá núi”; người “hiểu thấu lẽ đời khi trồng cây đức”; và người “như hòa vào cổ tích khi làm cô Tấm ở bản xa”.
Năm cách gọi tên ấy trùng khít đến kinh ngạc với hệ giá trị mà BIDV về sau chính thức tuyên xưng. “Trồng cây đức” là Liêm chính. “Gieo những mầm xanh” là Khát vọng. “Nâng bước cho người đến ước mong” là Nghĩa tình. Nhà nghiên cứu đi từ tư liệu mà tới; nhà thơ đi từ cảm xúc mà tới. Hai con đường, một điểm hẹn.
Và có một chi tiết về niên đại khiến câu chuyện có sức nặng riêng. Khi Bằng Việt viết những dòng ấy năm 2007, chữ “Nghĩa tình” chưa có mặt trong bộ giá trị chính thức của BIDV. Phải đến Nghị quyết số 25-NQ/ĐU ngày 7/11/2025 của Đảng ủy BIDV, “Nghĩa tình” mới được đưa vào thay cho “Chuyên nghiệp”, rồi được thể chế hóa trong Sổ tay Văn hóa BIDV năm 2026. Nghĩa là nhà thơ đã đọc thấy cái nghĩa tình trong thơ của người BIDV mười tám năm trước ngày tổ chức chính thức gọi tên nó. Và khi tổ chức đảng quyết định gọi tên, nghị quyết ấy không “sáng tác” ra một giá trị mới, mà thừa nhận một giá trị đã sống sẵn trong lòng người lao động từ lâu. Đó là cách một nghị quyết của cấp ủy chạm được vào gốc rễ: lắng nghe điều quần chúng đã tự nói ra, rồi nâng nó lên thành chuẩn mực chung.
Cô Tấm ở bản xa và người ngồi sau tấm kính
Hình tượng ám ảnh nhất, và cũng Việt Nam nhất, là cô Tấm. Nhà thơ Nghiêm Thị Hằng đặt tên bài thơ là “Cô Tấm bản xa”: người nữ cán bộ tín dụng vượt suối sâu, đường xa đến bản, mang theo một thứ “phép tiên” rất thực - bắc cầu qua sông, dựng trường học mới. Lê Xuân Đạm, người góp tới bảy bài trong tập, cũng đặt tên bài thơ của mình là “Cô Tấm Ngân hàng Đầu tư”.
Bài thơ đẩy nguyên mẫu ấy lên tầm bi tráng là “Lời ca từ đá núi” của Lê Thị Hải Yến. Trên ruộng bậc thang ngược dốc lên trời, người con gái ngân hàng vượt núi “bằng đôi chân con gái”. Tác giả nói rõ chị khác gì cô giáo vùng xuôi: cô giáo mang chữ đến cho dân, còn chị mang đồng vốn đến cho làng, cho bản.
|
| Ảnh do tác giả cung cấp |
Nếu cô Tấm đi rất xa, thì có những người ngồi rất gần - ngay sau tấm kính quầy giao dịch. Đinh Đức Toàn viết về cô kiểm ngân: “Em ngồi trước máy như bông cúc”, rồi để chính cô tự hiểu về phận nghề của mình: “nghề em vốn lặng thầm”. Lê Hoài Minh, trong “Cô gái kiểm ngân”, phá tan ngộ nhận rằng nghề ấy nhàn: mắt mỏi từ sáng đến chiều mà tuyệt đối “Đếm sao, không thiếu, không thừa”. Vũ Tiến Độ tìm ra một định nghĩa hàm súc về nghề kế toán: “Em nói bằng con số”. Còn Phạm Thị Lựa, trong “Hạnh phúc của em”, để người nữ cán bộ nói với người mình thương rằng nếu anh tìm đến mà thấy em luôn bận việc, xin chớ lấy làm buồn, bởi “Đó chính là hạnh phúc.”
Đỉnh cao của nguyên mẫu này có lẽ là “Lặng lẽ xuân” của Đinh Hữu Ngọc. Người cán bộ tự nhận nghề mình chẳng mơ mộng gì, suốt ngày toàn con số; ngoài kia xuân rộn ràng trên phố - “Ai hay xuân cũng đến tự tay tôi”. Bởi chính từ tay anh, tiền lương, tiền thưởng tỏa về bao mái ấm. Người mang mùa xuân đến cho muôn nhà lại là người ở lại phía sau cánh cửa.
Một chiến trường khác, nơi “cám dỗ giăng đầy”
Một trong những bài thơ “đắt” nhất trong kho thơ BIDV là “Chiến trường” của Bùi Duy Hùng. Người cựu binh trở về sau những năm bão lửa, đôi lúc trở trời còn đau nhói vì mảnh đạn thù. Nay anh trở lại với những hàng lối - không phải đồng đội, mà là con chữ, con số xếp hàng. Rồi bài thơ dựng đứng một chân lý: chiến trường mới không có bom, có lửa, không ác liệt như xưa, “nhưng cám dỗ giăng đầy”. Và bài thơ khép lại bằng tư thế của người lính Cụ Hồ: chiến trường xưa anh có gục ngã bao giờ, thì dẫu phải hy sinh, “anh vẫn đứng”.
Cùng mạch ấy, Tạ Văn Khuyến trong “Nhớ thuyền” nghiệm ra “Thương trường cũng giống chiến trường năm xưa”, và gói cả đời nghề vào một câu: “Dốc lòng vì một chữ ‘Tâm’.” Bùi Hải Bình, trong bài “Cây Đức” chỉ vỏn vẹn bốn câu lục bát, đúc cả một đạo lý nghề nghiệp: người ta trồng cây hạnh để chơi, ta trồng cây đức để đời về sau - “Tiền thừa trả lại cho nhau”. Bốn câu ấy có thể khắc lên tường mọi phòng giao dịch.
Trần Huy Toàn, trong “Chuyện ngày xưa”, kể bằng giọng hóm hỉnh chuyện anh chồng cưới được vợ ngân hàng, mừng thầm rằng từ nay tiền sẽ tiêu tràn; ghé cơ quan thấy vợ ngồi giữa bàn đầy tiền, mà trưa về vẫn quả trứng, mớ rau. Để rồi anh vỡ lẽ trước câu nói nhỏ nhẹ của vợ: tiền nhà nước đâu phải của riêng mình mà vung tay. Còn Nguyễn Đôn Minh, trong “Mười thương cán bộ Ngân hàng Đầu tư”, mở đầu bằng người thủ quỹ: “Đạo đức liêm khiết một xu không màng.” Một xu - đơn vị nhỏ nhất của đồng tiền - được chọn làm thước đo lớn nhất của nhân cách.
Cũng bài “Mười thương” ấy còn làm một việc mà không bản báo cáo nhân sự nào làm nổi: nó gọi tên đủ mười vị trí của ngôi nhà bằng chữ “thương”. Thương thủ quỹ cần cù, thương kế toán dịu dàng, thương người làm nguồn vốn tính toán lỗ lời, thương người tín dụng tảo tần cho vay dựng nước, giúp dân; thương người thanh toán quốc tế, người kiểm soát, người tiết kiệm, người bảo vệ sớm chiều canh gác, người hành chính làm dâu trăm họ, và thương cả người lãnh đạo sớm chiều lo toan. Từ người gác cổng đến người đứng đầu, không một ai bị bỏ quên. Đó là một bản danh sách của lòng biết ơn, viết theo khuôn ca dao “mười thương” của dân tộc.
Và nghĩa tình của ngôi nhà ấy được cất giữ trong những kỷ vật nhỏ đến nao lòng. Trần Huy Toàn, trong “Chiếc vỏ chăn xưa”, kể rằng năm 1973, ngày ông xây dựng gia đình giữa chiến tranh thiếu thốn, đồng đội đã may tặng ông một chiếc vỏ chăn ghép từ mười chiếc khăn vuông. Mười chiếc khăn ấy sưởi ấm vợ chồng, con cái ông qua bao mùa gió rét. Nay đã có nhiều thứ chăn đệm êm, ông vẫn giặt phơi chiếc vỏ cũ vá sờn, giữ lại để nhắc mình và nhắc các con: “mãi nồng ấm trong ta là tình nghĩa con người.” Còn Đức Nhượng, trong “Thăm lại Sơn La”, trở về thị xã ba bề núi đá của một thời trai trẻ để nhớ lại “Những đêm chuyển tiền vượt qua bom đạn”. Ở đây, ký ức của người trong cuộc và khung cảnh của thơ là một.
Những câu thơ ấy không phải là khẩu hiệu. Nhưng chúng làm được điều mà nhiều khẩu hiệu không làm được: đưa yêu cầu liêm chính, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mà Đảng ta kiên trì đòi hỏi ở mỗi cán bộ, đảng viên, vào ngôn ngữ của chính người trong nghề, bằng hình ảnh của chính đời sống nghề. Một cán bộ trẻ có thể quên một điều khoản quy chế, nhưng khó quên hình ảnh người vợ ngồi giữa bàn đầy tiền mà trưa về vẫn quả trứng, mớ rau. Đó là giáo dục đạo đức bằng cái đẹp - con đường mà Nghị quyết số 23-NQ/TW gọi là vai trò “xây dựng nền tảng tinh thần” của văn học nghệ thuật.
“Con cháu Bác Hồ, trọn đời trong sạch”
Hình ảnh Bác Hồ là một mạch lớn trong thơ của các cây bút vườn nhà BIDV. Vũ Tiến Độ, trong “Nói chuyện cùng con”, để người cha sắp nghỉ hưu dặn con nối nghiệp một điều duy nhất: dù làm việc gì cũng đừng quên lời Bác dạy - kiệm, cần, liêm, chính, chí công vô tư. Trong trường ca “Có một dòng sông BIDV”, khi Trần Nguyệt Quỳnh Hoa liệt kê những công trình mang dấu đồng vốn của ngành, chị mở đầu bằng đúng một câu: “Ai về thăm Lăng Bác” - rồi mới đến cầu Thăng Long, hồ Dầu Tiếng.
Nhưng câu chuyện cảm động nhất là một cuộc đối đáp bằng thơ kéo dài qua hai tuyển tập. Tháng 4/1997, chị Trần Thị Hiền viết bài “Hoài niệm” tặng người thầy dạy môn Kế toán Ngân hàng, nhớ những ngày “quên cám dỗ để từng trang cân đối”, nhớ “ngọn lửa nghề thắp lên từ ánh mắt” của thầy. Người thầy - nhà thơ Nguyễn Truyền - đã trả lời, cũng bằng thơ, bài “Kỷ niệm xưa”. Ông thành thật thừa nhận đời sống ngân hàng “cũng áo cơm tiền gạo”, “lắm lúc cũng bèo dạt mây trôi”, rồi khẳng định điều duy nhất ông muốn khẳng định:
“Nhưng từ ấy đến nay, vẫn tôi là tôi / Con cháu Bác Hồ, trọn đời trong sạch.”
Hai mươi bốn năm sau bài giảng cuối cùng, người thầy vẫn thấy cần nói với người học trò cũ rằng ông đã sống trong sạch. Không ai hỏi ông điều đó. Người học trò tri ân bằng thơ; người thầy đáp lại không phải bằng lời khen, mà bằng một bản kê khai đạo đức của chính đời mình.
Đó chính là hình ảnh đẹp nhất của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị đã đề ra: không phải học thuộc, mà sống theo, và sẵn sàng chịu trách nhiệm suốt đời trước người khác về việc mình có sống đúng điều mình đã dạy hay không. Tấm gương ấy không được treo từ trên xuống. Nó được chuyền tay từ người này sang người khác - qua một bài thơ cha viết cho con, một bài thơ thầy đáp lại trò.
Con ong - hình ảnh tự họa của cả một tập thể
Đọc dọc hai tuyển tập, có một hình ảnh trở đi trở lại đến mức không thể là ngẫu nhiên: con ong. Khởi đầu là câu hát quen thuộc của nhiều thế hệ người BIDV: “Như con ong đi tìm hoa lấy mật / Dâng cho đời vị ngọt và hương thơm”. Tạ Văn Khuyến viết “Con ong làm mật tìm hoa dâng đời”. Bùi Thị Xuân Lam gọi các nữ đồng nghiệp là “những con ong chuyên cần, những cô Tấm đảm đang”. Lê Xuân Đạm tả cô gái đầu tư “Lặng thầm tần tảo cánh ong”. Người mẹ trong bài “Thơ viết cho con” của Võ Thị Thu Trang dặn con rằng nghề của mẹ “Như con ong mang mật ngọt cho đời”. Và ở thế hệ hôm nay, chị Hoàng Thị Bích Thủy tự ví mình và đồng nghiệp là “những con ong chăm chỉ góp nhặt thầm lặng, như những nốt trầm xao xuyến hòa trong bản anh hùng ca BIDV”.
Từ người đứng đầu ngân hàng đến người mẹ trẻ ở phố núi, tất cả cùng chọn một hình ảnh để nói về mình - không phải con hổ, con đại bàng, không phải bất cứ biểu tượng nào của quyền lực, mà là con ong: bé nhỏ, chuyên cần, lặng lẽ, và làm ra mật cho người khác. Một tập thể mấy vạn người, qua bảy thập kỷ, không ai bảo ai mà cùng chọn đúng một hình ảnh khiêm nhường ấy - điều mà không một chiến dịch truyền thông nào tạo ra nổi.
Hình ảnh ấy cũng là một cách hiểu rất Việt Nam về tinh thần phục vụ nhân dân: lao động cần mẫn, không phô trương, và thành quả dành cho người khác. Khi một tổ chức tự họa mình bằng con ong chứ không bằng biểu tượng của quyền lực, đó là dấu hiệu của một văn hóa đã thấm lời dạy “làm việc gì có lợi cho dân” vào tận cách tự nhìn mình.
“Chúng con cảm ơn ai?”
Có một góc nhìn nữa, có lẽ cảm động nhất: chân dung người cán bộ ngân hàng được vẽ bởi chính những người thụ hưởng đồng vốn. Bùi Hải Bình, trong “Đồng tiền xóa đói”, mượn ca dao “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” mà mở đầu, rồi nhìn đàn lợn béo, ao cá quẫy, vườn xanh cây mà nhớ ngân hàng đã cho vay: “Đồng tiền xóa đói những ngày đầu tiên!” Nguyễn Viết Mạch, Giám đốc chi nhánh Ba Đồn, dựng lại cảnh lũ miền Trung ngập trắng, rồi giữa cảnh ấy hiện lên một hình ảnh làm ta lặng đi: “Cán bộ Ngân hàng theo lũ xuống”. Bài thơ khép bằng một câu giản dị như nét hồng bếp lửa: “Đồng tiền đi, ấm áp tình người.”
|
| Ảnh do tác giả cung cấp |
Nhưng bài thơ khiến ta rưng rưng nhất là “Vốn” của Lý Hoài Xuân, kể qua đôi mắt một đứa trẻ. Nhớ năm nào giáp Tết, nét mặt cha buồn rầu vì nhà máy hết việc, cả nhà dùng cơm rau. Rồi một năm khác, Tết chưa đến mà mai đã thầm khoe hoa, lương tháng cha gấp bội - bởi nhà máy cha lớn mạnh nhờ vốn vay ngân hàng. Đứa trẻ kết bài bằng một câu hỏi ngây thơ mà thấu tận tim gan người làm nghề: “Chúng con cảm ơn ai?”
Người cán bộ tín dụng ấy sẽ chẳng bao giờ biết có một đứa trẻ nào đó, ở một xóm nhỏ nào đó, đã hỏi câu ấy về mình. Và có lẽ, đó chính là phần thưởng cao quý nhất của nghề: được biết ơn bởi những người không biết tên mình.
Câu hỏi của đứa trẻ cũng là câu trả lời cho câu hỏi lớn về sứ mệnh của một ngân hàng thương mại nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng: đồng vốn không tự nó có giá trị; giá trị của nó nằm ở chỗ nó làm cho bữa cơm của một gia đình công nhân bớt đạm bạc, làm cho một làng quê sau lũ có lại mái nhà. “Đằng sau các con số là hạnh phúc của đồng bào” - câu thơ của Vũ Quần Phương, đến đây, không còn là một nhận xét văn chương, mà là một định nghĩa về lý tưởng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người làm ngân hàng.
![]() |
| Ảnh minh họa do tác giả cung cấp |
Ngân hàng là nơi của những con số: nợ và có, lãi suất và thanh khoản, hạn mức và quyết toán. Ít ai nghĩ đó lại là nơi thơ ca, âm nhạc, văn chương có thể nảy mầm. Vậy mà gần bảy thập kỷ qua, riêng ở Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã có hai tuyển tập thơ được xuất bản chính thức, hai tập thơ nhạc do Nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành, hàng chục ca khúc, nhiều tập hồi ký, bút ký và cả một bộ phim do chính cán bộ viết kịch bản. Loạt bài đọc lại nguồn mạch ấy qua ba lớp: người làm ngân hàng trong thơ, tiếng hát trong ngôi nhà chung, và những câu chuyện nghề được truyền từ đời này sang đời khác.
Loạt bài được đặt trong dòng chảy của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Kết luận số 84-KL/TW tiếp tục thực hiện nghị quyết ấy, và Quyết định số 1858/QĐ-NHNN ngày 18/8/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng. Đọc lại nguồn mạch văn nghệ của một ngân hàng dưới ánh sáng ấy, có thể thấy rõ hơn một điều: văn học nghệ thuật không phải thứ trang trí bên lề nghề tiền tệ, mà là một phần của nền tảng tinh thần, của sức mạnh nội sinh mà Đảng ta đang kêu gọi khơi dậy.
Kỳ 2 - Khi ngôn từ bất lực thì âm nhạc lên tiếng
Ở BIDV, thơ không dừng lại trên giấy - nó đòi được hát lên. Từ một bài thơ của người Tổng Giám đốc “không biết một nốt nhạc bẻ đôi” đến hội diễn gần sáu trăm diễn viên không chuyên, tiếng hát trong ngôi nhà chung đã trở thành một “căn cước bằng âm thanh” và một cơ chế tự chữa lành của cả tập thể.
Một bài thơ, hai ca khúc
Năm 1990, khi nhận nhiệm vụ Tổng Giám đốc, ông Nguyễn Văn Doãn day dứt một câu hỏi: các ngân hàng trên thế giới đều có những dấu hiệu văn hóa riêng - lô-gô, hành khúc, phòng truyền thống, tạp chí - sao BIDV chưa có? Chuẩn bị kỷ niệm 35 năm thành lập, người tự nhận “một nốt nhạc bẻ đôi không biết” viết một bài thơ về ngành và mời nhạc sĩ Thuận Yến.
Đọc xong, nhạc sĩ nói sẽ sáng tác hai bài hát. Ít lâu sau, ông cùng ca sĩ Thanh Lam mang một cây ghi-ta đến cuộc họp của Ban lãnh đạo; những người lãnh đạo ngân hàng trở thành thính giả đầu tiên của “Đồng tiền và những tấm lòng” và “Hát về em cô gái ngân hàng”. Bài thơ ban đầu viết về ngành. Nhưng tên bài hát là do nhạc sĩ đặt, và người nghệ sĩ đứng bên ngoài đã nhìn thấy trong đó một con người: cô gái ngân hàng. Ông Nguyễn Văn Doãn về sau đúc kết bằng một câu đáng nhớ: “Khi ngôn từ bất lực thì âm nhạc lên tiếng.”
![]() |
| Ảnh tác giả cung cấp |
Năm năm sau, nhân 40 năm ngày truyền thống, vẫn thơ Nguyễn Văn Doãn, vẫn nhạc Thuận Yến, “Có một ngân hàng như thế” ra đời. Các nhạc sĩ An Thuyên, Tân Huyền cũng lấy ý thơ ông để viết những ca khúc khác về ngành. Cũng năm 1997, tập thơ nhạc “Có một ngân hàng như thế” được Nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành; hai mươi năm sau, nhân 60 năm thành lập, tập thơ nhạc thứ hai, “Những thanh âm cuộc sống”, tiếp tục ra đời tại Nhà xuất bản Âm nhạc năm 2017. Hai cuốn sách nhạc, cách nhau hai thập kỷ, là bằng chứng rằng tiếng hát trong ngôi nhà này không phải một cảm hứng nhất thời. Nhà văn Lê Ngọc Minh ghi lại rằng bài hát của Thuận Yến đã lan truyền trong toàn hệ thống như một bản “ngành ca” của người làm ngân hàng.
Cơ chế sáng tạo ấy rất đáng dừng lại: không phải tổ chức bỏ tiền đặt hàng, mà là nhạc sĩ chuyên nghiệp tự nguyện phổ nhạc vì thấy ca từ xứng đáng được cất tiếng. Và câu hát “Đồng tiền trên tay em / Nặng ân tình của mẹ / Thấm mồ hôi của cha” từ đó đi vào lòng nhiều thế hệ như một lời nhắc về đạo đức nghề: đồng tiền đi qua tay người ngân hàng mang theo công sức và niềm tin của nhân dân.
Một bản hành khúc hát vang trong đêm Noel
Trước đó ít lâu, ngôi nhà này đã bắt đầu tìm tiếng hát của riêng mình. Theo hồi ức của Tiến sĩ Nguyễn Văn Đường, ý tưởng làm một bài hát cho ngành khởi đi từ chính ông Nguyễn Văn Doãn, người đã hát thử câu “Đầu tư ta những chặng đường lịch sử” theo giai điệu bài “Hành quân xa”. Từ cái tứ ấy, ông Đường viết trọn phần lời, ông Nguyễn Xuân Sinh góp phần chỉnh sửa. Bài “Hành khúc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” hoàn thành khoảng tháng 8, tháng 9 năm 1996, được hát vang lần đầu trong đêm Noel năm ấy, trước thềm kỷ niệm 40 năm thành lập. Sau đó, chính ông Nguyễn Văn Doãn phê duyệt và chỉ đạo dịch bài hát sang tiếng Anh.
Chi tiết cuối cùng nói lên nhiều điều: một tổ chức muốn bài ca của mình hát được cả với người ngoài biên giới. Từ năm 1996, BIDV đã nghĩ đến việc đưa tiếng nói văn hóa của mình ra thế giới - điều mà hôm nay được gọi bằng một cái tên lớn hơn: sức mạnh mềm.
Tiếng hát ấy còn có mặt ở những nơi không ai sắp đặt. Bài “Đồng tiền và những tấm lòng” có lần vang lên trong lễ mồng 8 tháng 3 tại một chi nhánh vừa gắng gượng thoát khỏi cơn khủng hoảng. Người được giao đi trấn an anh em, cuối cùng lại được chính anh em động viên; và trong khoảnh khắc ấy, như một người trong cuộc nhớ lại, sự đoàn kết đã trở thành “một thứ cái đẹp nghe được”. Năm 1999, hội thi lớn của Công đoàn BIDV nhân 70 năm Công đoàn Việt Nam được đặt tên theo chính bài hát của Nguyễn Văn Tý: “Em đi làm tín dụng”. Cuộc thi trải khắp chín khu vực, từ Sơn La, Nam Định ra Hà Nội, vào Huế, Đắk Lắk rồi xuống Tiền Giang, với một phần thi mang tên rất riêng - “Chúng tôi nói về chúng tôi”. Người tổ chức, ông Lê Xuân Đạm, gọi đúng tên điều hội thi làm được: “mỗi công đoàn cơ sở là một bông hoa đẹp, có hương thơm và màu sắc riêng nhưng vẫn mang đậm dấu ấn BIDV, tạo thành vườn hoa đẹp rực rỡ sắc màu trong ngôi nhà chung”.
“Văn hóa BIDV thứ thiệt”
Mạch âm nhạc ấy nối sang thế hệ sau, và cảm động nhất là câu chuyện của nhạc sĩ Vũ Thạch Hùng, cán bộ gắn bó với BIDV hơn hai mươi năm, hội viên Hội Âm nhạc Hà Nội. Ca khúc “Thẳng hướng tương lai” của ông không hề được đặt hàng. Nó ra đời trong một đêm ở Sa Pa, sau chuyến đi thực tế Lào Cai cùng đoàn nhạc sĩ do BIDV mời:
“Giai điệu và ca từ ào ạt đến, tôi phấn chấn cảm xúc như một kẻ lên đồng. Tôi hát vang một mình thành lời: ‘Thẳng hướng tương lai / Cánh buồm xanh con thuyền đỏ / Dù bao sóng gió vững vàng đi lên…’”
Ông hoàn thành bản mộc đầu tiên đúng lúc ánh ngày ửng hồng trong màn sương Sa Pa. Về sau, kể lại cái đêm ấy, ông gọi nó bằng mấy chữ đã thành giai thoại: “Văn hóa BIDV thứ thiệt”. Chữ “thứ thiệt” là chữ của đời thường, vốn dùng để phân biệt hàng thật với hàng nhái. Nghĩa là với người trong cuộc, có một thứ văn hóa diễn ra trên sân khấu, và một thứ chỉ hiện hình lúc không ai nhìn: giữa một đêm núi, khi người ta hát một mình vì không nhịn được.
![]() |
| Ảnh do tác giả cung cấp |
Chuyến đi ấy nằm trong một mô hình hiếm có ở một doanh nghiệp: để chuẩn bị ấn phẩm “60 ca khúc về BIDV” do Công đoàn BIDV biên tập, nhạc sĩ Trương Ngọc Ninh chủ trì, một đoàn nhạc sĩ - Trương Ngọc Ninh, Nguyễn Đức Trịnh, Nguyễn Cường, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Tiến, Tuấn Phương, Giáng Son, Lê Minh Sơn - đã lên Lào Cai, Sa Pa, ở lại với chi nhánh vùng biên, rồi từ những đêm ấy mang về những ca khúc có hơi thở thật của vùng đất và con người.
Tiếng hát một mình giữa đêm núi, ít năm sau, đã lớn thành tiếng hát của cả cộng đồng. Nhân 60 năm thành lập, Công đoàn BIDV tổ chức hội diễn hai ngày 12 và 13/4/2017 tại Nhà hát Âu Cơ với 574 diễn viên không chuyên đến từ 209 công đoàn cơ sở, trước Lễ kỷ niệm chính thức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, nơi “Thẳng hướng tương lai” vang lên cùng dàn hợp xướng. Gần sáu trăm con người của một ngân hàng bước lên sân khấu nhà hát - con số ấy tự nó đã là một chỉ báo văn hóa.
“Tôi có một dòng sông”
Trong kho thơ nhạc của ngôi nhà này, có một bài thơ đã đi trọn con đường từ trang giấy đến tiếng hát. Mùa xuân năm 2007, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Phùng Thị Vân Anh - người gắn bó hơn nửa thế kỷ với ngân hàng - viết “Ký sự một dòng sông”, đề “Tặng BIDV - Thân yêu - 50 năm”, đặt ở trang mở đầu tuyển tập “Có một ngân hàng như thế”. Chị không kể thành tích; chị chọn một hình ảnh:
“Nơi bắt đầu dòng sông / Là một con suối nhỏ / Ngàn con suối góp mình / Thành một dòng sông Mẹ / Có khi âm thầm lặng lẽ / Có khi ào ạt thác ghềnh / Sông qua dặm dài gian khổ / Vẫn thẳng hướng về biển rộng”
Ngàn con suối “góp mình” - như ngàn thế hệ cán bộ tự nguyện hòa vào dòng chung. Rồi đến một lời gọi rất Việt, chuyển sang nhịp lục bát như một câu ca dao: “BIDV ơi! / Người là một dòng sông / Cần cù thầm lặng, ngọt dòng phù sa / Nước trong tắm mát hồn ta / Đem niềm vui Quả và Hoa dâng đời”.
Từ bài thơ ấy, nhạc sĩ Nguyễn Cường đã phổ thành ca khúc “Tôi có một dòng sông” - một bài hát rất hay, mang âm hưởng vừa hào hùng vừa da diết. Hào hùng như dòng sông vượt thác ghềnh “vẫn thẳng hướng về biển rộng”; da diết như tình của người đã gửi cả đời mình vào dòng chảy ấy. Ca khúc được in trong tập thơ nhạc “Những thanh âm cuộc sống” (Nhà xuất bản Âm nhạc, 2017), ấn phẩm ra đời nhân 60 năm thành lập.
Từ một bài thơ tặng ngành của người lãnh đạo, đến một ca khúc của nhạc sĩ chuyên nghiệp, rồi đến một cuốn sách nhạc được xuất bản chính thức - dòng sông ấy đã chảy qua đủ ba bến: thơ, nhạc và ký ức in thành sách. Và một lần nữa, câu nói của ông Nguyễn Văn Doãn lại đúng: có những điều ngôn từ chỉ nói được một nửa, phần còn lại phải để âm nhạc cất lên.
Một “salon văn nghệ” giữa lòng ngân hàng
Từ thập niên 1990, dưới thời ông Nguyễn Văn Doãn, Trụ sở chính BIDV đã trở thành một thứ “salon văn nghệ”: các nhạc sĩ Thuận Yến, Phan Huấn; các nhà văn, nhà thơ Trúc Thông, Tuấn Vinh, Anh Chi; các nghệ sĩ Như Quỳnh, Phương Thanh, Xuân Sơn, Kim Cương; các ca sĩ Thanh Lam, Thùy Dung… nhiều lần đến hát cùng và giao lưu với những người làm ngân hàng có “máu mê văn nghệ”. Cảm hứng ấy còn tràn sang màn ảnh: năm 2002, Chi nhánh BIDV Hải Dương tự làm bộ phim “Chọn vợ”, kịch bản do chính Giám đốc chi nhánh Đoàn Văn Nghệ viết, diễn viên là nhân viên ngân hàng, đoạt giải khuyến khích cuộc thi của Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Dương.
Và phản xạ “nghệ thuật hóa” đời sống nghề ấy có gốc rễ rất sâu. Ngay giữa bom đạn thời chiến, liệt sĩ Nguyễn Văn Lới, một cán bộ cấp phát, đã “vừa bám công trường vừa soạn những bài tấu vui, làm thơ trào phúng để động viên đồng đội”. Năm 2011, cố Chủ tịch Nguyễn Văn Doãn chép lại danh sách những trưởng phòng, giám đốc chi nhánh đầu tiên thành một bài vè lục bát - để những cái tên ấy có vần, có nhịp, và không rơi khỏi trí nhớ tập thể.
Vùng đệm để con người không hóa đá
Vì sao một ngân hàng cần những điều ấy? Khái niệm “lao động cảm xúc” của nhà xã hội học Arlie Hochschild soi rọi một sự thật ít ai để ý: người làm ngân hàng mỗi ngày phải giữ một gương mặt được kiểm soát - điềm tĩnh trước rủi ro, nhã nhặn trước những khách hàng khó tính nhất. Cảm xúc bị nén trong giờ làm việc không biến mất; nếu tổ chức không mở cho nó một lối thoát lành mạnh, nó sẽ tìm lối thoát khác: sự chai sạn, thói hoài nghi, và cuối cùng là kiệt sức.
Nhà tâm lý học Christina Maslach chỉ ra rằng kiệt sức nghề nghiệp có ba gương mặt: cạn kiệt năng lượng, hoài nghi chai sạn, và cảm giác mất hiệu quả - chỉ gương mặt thứ nhất liên quan đến khối lượng công việc; hai gương mặt còn lại thuộc về ý nghĩa và sự kết nối. Văn nghệ nội sinh chính là nơi trả lại hai thứ ấy. Trên một sân khấu cơ quan, người trưởng phòng tín dụng nghiêm cẩn tạm cởi vai trò để hát; người kế toán trưởng cả năm sống với con số bỗng thành một giọng ngâm thơ. Con người được nhìn thấy nhau ở một chiều khác - chiều của tâm hồn chứ không phải của chức vụ. Chính người BIDV đã gọi thẳng chức năng ấy: văn nghệ nội bộ là “một cơ chế tự chữa lành và tái tạo sức lao động”.
Hãy hình dung một cảnh rất nhỏ mà nói được tất cả. Trong một chuyến đi cơ sở, giữa rừng, cả đoàn chơi trò “xì điện” - ai bị chỉ vào là phải lập tức hát hoặc đọc một bài. Đến lượt mình, ông giám đốc Lê Văn Ba không chọn một bài hát quen thuộc để “thoát nạn”, mà đứng lên đọc bài thơ tình ông viết tặng vợ. Cả đoàn, trong khoảnh khắc ấy, nhìn thấy người đứng đầu không phải như một chức vụ mà như một người chồng yêu vợ, yêu mái ấm gia đình như yêu cuộc sống.
Văn nghệ nội sinh còn là cách một nghề tự bảo vệ phẩm giá của mình. Suốt gần ba thập kỷ, những người làm kế toán BIDV bền bỉ dùng thơ để phản bác lời buộc tội “khô khan”. Trần Thị Hiền viết: “Ai dám bảo khô khan nghề con số”. Kế toán trưởng Bùi Thị Hòa mở đầu hồi ức bằng một câu hát tự chế: “Người ta bảo kế toán khô khan, sao cứ doanh thu, chi phí, tài khoản. / Nhưng anh yêu vì em là kế toán, sống chân tình và yêu hết mình.” Chị Hoàng Thị Bích Thủy kể hành trình từ chỗ thấy những con số “bí hiểm và đáng ghét” đến chỗ “yêu thích lúc nào không hay”. Họ không phản bác bằng lý lẽ gay gắt, mà bằng thơ và tình ca - đúng cái tạng dịu dàng, tiết chế của người BIDV.
Hệ sinh thái sân chơi ấy hôm nay còn rộng hơn. Cuộc thi “Tìm kiếm tài năng BIDV trên địa bàn Hà Nội” do Công đoàn BIDV tổ chức năm 2023 được anh chị em gọi vui là “BIDV’s Got Talent”; bên cạnh đó là các câu lạc bộ nghệ thuật do Đoàn Thanh niên gây dựng, nơi lớp cán bộ trẻ được đào tạo về thanh nhạc, hình thể và diễn xuất. Việc một ngân hàng đầu tư để nhân viên của mình biết hát đúng nhịp, biết đứng vững trên sân khấu, thoạt nghe có vẻ xa lạ với nghiệp vụ tín dụng; nhưng đó là khoản đầu tư vào chính cái “van điều tiết” giữ cho con người khỏi chai sạn.
Và tiếng hát ấy không chỉ để tự ru mình. Suốt nhiều năm, BIDV đồng hành cùng chương trình “Mang âm nhạc đến bệnh viện”; riêng năm 2015, năm thứ ba liên tiếp ngân hàng tài trợ, đã có 40 chương trình trải từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh và cả đảo Lý Sơn. Một sinh hoạt văn nghệ, khi được đem ra khỏi cơ quan, đã hóa thành một nghĩa cử cộng đồng.
Đặt trong khung chính sách hôm nay, những điều tưởng như “ngoài giờ” ấy lại chạm đúng vào trọng tâm. Nghị quyết số 61-NQ/ĐU ngày 21/5/2026 của Ban Thường vụ Đảng ủy BIDV về phát triển văn hóa tại BIDV yêu cầu “thúc đẩy cân bằng giữa công việc và cuộc sống, chăm lo sức khỏe thể chất và tinh thần cho cán bộ, người lao động”, xây dựng BIDV là “ngân hàng hạnh phúc” của người lao động. Và Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng ban hành kèm Quyết định số 1858/QĐ-NHNN giao Công đoàn Ngân hàng Việt Nam chủ trì khuyến khích các đơn vị tổ chức hoạt động “sáng tác, biểu diễn, giao lưu văn học, nghệ thuật nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động”, đồng thời hình thành các câu lạc bộ nghệ thuật “nòng cốt làm đại sứ văn hóa”. Kinh nghiệm của BIDV cho thấy: khi Công đoàn, Đoàn Thanh niên, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, biết tổ chức cho người lao động được hát, được viết, được đứng trên sân khấu, thì đó không phải là “phong trào” cho có, mà là một khoản đầu tư vào chính sức bền của tổ chức.
![]() |
| Ảnh minh họa do tác giả cung cấp |
Ngân hàng là nơi của những con số: nợ và có, lãi suất và thanh khoản, hạn mức và quyết toán. Ít ai nghĩ đó lại là nơi thơ ca, âm nhạc, văn chương có thể nảy mầm. Vậy mà gần bảy thập kỷ qua, riêng ở Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã có hai tuyển tập thơ được xuất bản chính thức, hai tập thơ nhạc do Nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành, hàng chục ca khúc, nhiều tập hồi ký, bút ký và cả một bộ phim do chính cán bộ viết kịch bản. Loạt bài đọc lại nguồn mạch ấy qua ba lớp: người làm ngân hàng trong thơ, tiếng hát trong ngôi nhà chung, và những câu chuyện nghề được truyền từ đời này sang đời khác.
Loạt bài được đặt trong dòng chảy của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Kết luận số 84-KL/TW tiếp tục thực hiện nghị quyết ấy, và Quyết định số 1858/QĐ-NHNN ngày 18/8/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng. Đọc lại nguồn mạch văn nghệ của một ngân hàng dưới ánh sáng ấy, có thể thấy rõ hơn một điều: văn học nghệ thuật không phải thứ trang trí bên lề nghề tiền tệ, mà là một phần của nền tảng tinh thần, của sức mạnh nội sinh mà Đảng ta đang kêu gọi khơi dậy.
Kỳ 3 - Từ lời kể đến kế hoạch hành động
Bên cạnh thơ và nhạc có tên tác giả, ngôi nhà BIDV còn lặng lẽ tích lũy một kho văn học không có trong danh mục xuất bản nào: những câu chuyện nghề được kể đi kể lại. Giữ cho kho ấy còn sống, và biến nguồn mạch tự phát thành trách nhiệm có tổ chức, là việc mà Quyết định 1858/QĐ-NHNN đang đặt ra cho cả ngành.
Một kho văn học không cần giấy
Mọi cộng đồng bền lâu đều có một kho truyện kể, giai thoại được truyền miệng. Nhà nghiên cứu Walter Ong, trong công trình “Orality and Literacy”, chỉ ra rằng văn hóa truyền khẩu dùng những công thức lặp đi lặp lại để dễ nhớ, tổ chức ý nghĩa quanh những nhân vật và sự kiện đáng nhớ, bám sát đời sống con người cụ thể và luôn đậm màu cảm xúc.
Kho truyện nghề của BIDV có đủ những dòng ấy. Có truyện khai nguyên về buổi đầu tay trắng từ năm 1957, khi hành trang của người cán bộ chỉ là cây bút máy, cuốn sổ tay và ngọn đèn dầu. Có truyện lao động về những đêm quyết toán trắng, những chuyến giải ngân băng rừng lội suối, những “Hổ lửa” thầm lặng giữ thanh khoản cho cả hệ thống. Có truyện hy sinh về những cán bộ đã ngã xuống. Và bao trùm tất cả là truyện “ngôi nhà chung” - với những công thức lặp lại như “cả thanh xuân”, cách gọi “má”, “cô”, “chị” biến đồng nghiệp thành ruột thịt.
Có những công thức bật ra ngay trước mắt mọi người rồi ở lại với cả hệ thống. Tại Hội thi Giao dịch viên giỏi năm 2009, thí sinh Trương Thị Thanh Viên từ Kon Tum suýt lỡ thi vì chuyến bay trục trặc, đã được anh chị em Trụ sở chính, chi nhánh Gia Lai và chi nhánh Bình Định chuyền tay nhau giúp kịp chuyến bay từ Quy Nhơn ra Hà Nội. “Ở đâu cũng có BIDV”, cô nói. Câu ấy không ra đời từ một phòng truyền thông, mà từ miệng một người vừa được cứu khỏi cảnh lỡ hẹn với giấc mơ nghề nghiệp - và vì thế mới đủ sức đi tiếp.
Bên cạnh những dòng lớn ấy còn một mạch nhỏ hơn, vui hơn: giai thoại hội thi. Người ta quên rất nhanh ai được bao nhiêu điểm, nhưng không ai quên chuyện một thí sinh làm bài xuất sắc mà tuột mất một suất trong nhóm dẫn đầu chỉ vì quên một sợi “cột thun đỏ lẻ” - đúng là “sai một ly đi một dặm”; và cũng không ai quên anh Trần Trọng Tiến (Nam Định), khi máy đếm trục trặc thì đếm tay còn nhanh hơn máy, ẵm luôn giải “Phong cách”. Một mẩu để răn, một mẩu để ủi - cặp bài trùng muôn thuở của mọi nền văn học truyền miệng.
Có cả một tiểu loại xứng đáng được gọi bằng cái tên trang trọng - những thiên truyện hội nhập, kể về các cán bộ mang văn hóa ngôi nhà chung sang Campuchia, sang Lào. Đó là chuyện gian bếp “cơm bà B” bên BIDC Campuchia - bếp của một người nấu ăn Việt bỗng thành một mảnh quê hương giữa xứ người; chuyện những cán bộ ngân hàng đứng tuổi lại ngồi vào bàn đánh vần tiếng Khmer, tiếng Lào để đến gần hơn với đồng nghiệp và khách hàng bản địa. Những câu chuyện ấy khẳng định rằng cái “chất BIDV” đủ bền để đi xa.
“Cô gái hát trên đỉnh Trường Sơn”
Có những câu chuyện chứa trọn cả một thể loại. Trên chuyên mục “BIDV Stories”, ngày 28/4/2025, ông Lương Thanh Sở, nguyên cán bộ Bộ Ngoại giao, kể về một đoàn gần sáu mươi cán bộ trẻ ngành ngân hàng vừa tốt nghiệp hành quân vào Nam, bị máy bay địch ném bom ở ngã ba Đông Dương. Giữa lúc cả đoàn rúng động, người nữ đoàn viên trẻ nhất đã cất tiếng hát “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát” để vực dậy tinh thần đồng đội. Bốn mươi năm sau, tác giả gặp lại cô - khi ấy đã là Phó Giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Quảng Bình.
Câu chuyện có anh hùng, có hiểm nguy, có một hành vi nghệ thuật cứu người, và có cái kết mở ra suốt bốn thập kỷ. Nó cũng nhắc lại một điều mà thế hệ trẻ hôm nay cần được nghe: trong những năm tháng “tất cả cho tiền tuyến”, tiếng hát của người cán bộ ngân hàng cũng là một thứ vũ khí - đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
Khi lời kể được chép thành văn
Rồi đến khoảnh khắc một truyền thống truyền khẩu bắt đầu được chép lại thành văn tự - và BIDV đã bước qua ngưỡng ấy một cách có ý thức. Bằng chứng đồ sộ nhất là Bản tin, về sau là Tạp chí Đầu tư Phát triển: hơn 340 số báo nối nhau qua ba thập kỷ, nếu đọc liền mạch sẽ hiện ra không phải một tập bản tin nghiệp vụ, mà một “biên niên sử cảm xúc” của cả ngôi nhà. Trên những trang báo ấy, mọi người đều có quyền cất tiếng - từ vị lãnh đạo cao nhất đến bác bảo vệ, người giao dịch viên trẻ nhất.
Năm 2021, nhân 70 năm ngành Ngân hàng Việt Nam, cuộc thi “Ngân hàng tôi yêu” do Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ phối hợp tổ chức đã thu hút hơn 800 tác phẩm ở đủ thể loại - văn xuôi, truyện ngắn, truyện tranh, viết thư, thơ, nhạc. Trong cuộc thi ấy, chị Dương Thị Hương Lan, cán bộ BIDV Sa Pa, viết một câu cô đọng gần như trọn vẹn cả một thể loại: “Cả thanh xuân gắn bó với BIDV, tôi được sống có ích, sống yêu thương và biết ơn nhiều hơn.”
Hãy đọc thật chậm câu ấy. Nó biến một sự nghiệp - vốn có thể kể bằng chức danh, thâm niên, thành tích - thành một câu chuyện trưởng thành về đạo đức: sống có ích, sống yêu thương, biết ơn. Không ai bắt người viết diễn đạt như thế; chị với lấy công thức chung “cả thanh xuân” bởi nó vốn đã là của chị.
Một truyền thống truyền khẩu sống hay chết là tùy ở chỗ nó còn người kể hay không. Ở BIDV, vai trò người kể chuyện được lớp lãnh đạo lão thành gánh vác một cách tự nhiên, qua từng bài viết trên Bản tin, từng vần thơ, từng lời nhắn trong buổi gặp mặt truyền thống. Tổ chức còn dựng cho tiếng kể ấy một chỗ trú vật chất - Phòng Truyền thống BIDV, nơi mỗi cán bộ trẻ trước khi đi công tác nước ngoài được nghe lại những thiên truyện hội nhập như một “lễ truyền lửa”. Nhà xã hội học Maurice Halbwachs gọi đó là ký ức tập thể: thứ ký ức không thuộc về cá nhân nào mà thuộc về cả nhóm, và được cá nhân tiếp nhận qua chính tư cách thành viên của nhóm. Câu chuyện nghề là cuống nhau nối các thế hệ; nếu đứt, mỗi thế hệ sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, và ngôi nhà sẽ chỉ còn là một tòa nhà.
Và hôm nay, những người viết chuyên nghiệp cũng tìm đến. Hướng tới mốc 70 năm (1957-2027), một tuyển tập văn chương về BIDV đang được biên soạn với sự góp mặt của Sương Nguyệt Minh, Chu Lai, Nguyễn Hữu Quý, Lương Ngọc An, Mai Nam Thắng, Bùi Sim Sim, Đỗ Tiến Thụy, Xuân Ba… Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý thú nhận ông cảm nhận được ân tình mà BIDV dành cho mình, dù ông chưa từng là khách hàng. Nhà thơ, doanh nhân Trần Đỗ Liêm đúc kết: nguồn vốn của doanh nhân là tiền, nguồn vốn của thi nhân là ngôn từ, và ông may mắn được hưởng cả hai. Nhà thơ Pờ Sảo Mìn nói một câu đáng suy ngẫm: “Không ai chết vì thiếu thơ, nhưng nó có thể giúp một nhà quản lý không trở thành độc tài và một doanh nhân không trở nên trọc phú!” Còn nhà văn Lương Ngọc An gói tất cả vào bốn chữ: “Vấn đề không chỉ là tiền!”.
Khi kho ký ức cần một thiết chế
Nhưng cũng phải nhìn thẳng vào một thực tế: phần lớn những gì đã có trong kho văn nghệ ấy ra đời một cách tự phát, gắn với tâm huyết của những cá nhân cụ thể. Những tuyển tập in số lượng ít. Nhiều ca khúc chưa có bản ghi âm chuẩn. Nhiều hồi ký còn nằm trong ngăn kéo. Walter Ong còn cảnh báo một nguy cơ khác: khi lưu một câu chuyện vào kho, ta có thể “ướp xác” nó, biến lời kể còn ấm hơi người thành một dòng tư liệu lạnh. Kho lưu trữ chỉ sống khi nó được kể lại, hát lại, diễn lại. Khi thế hệ người viết, người kể đi qua, nguồn mạch ấy có nguy cơ đứt đoạn.
Đó là lúc cần đến một thiết chế. Gần hai mươi năm trước, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị đã xác định: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.” Ngày 21/6/2024, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 84-KL/TW tiếp tục thực hiện nghị quyết ấy; Thủ tướng Chính phủ cụ thể hóa bằng Quyết định số 2640/QĐ-TTg ngày 4/12/2025.
Ngày 18/8/2026, ngành Ngân hàng có Kế hoạch hành động của riêng mình, ban hành kèm Quyết định số 1858/QĐ-NHNN. Kế hoạch đặt mục đích “tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành Ngân hàng, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn học, nghệ thuật trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đồng thời “thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện đối với văn học, nghệ thuật”. Kế hoạch được triển khai theo bốn nhóm nhiệm vụ: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của cấp ủy, nhất là người đứng đầu; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tăng cường nguồn lực; phát huy vai trò báo chí, truyền thông và phong trào văn nghệ quần chúng; đẩy mạnh giao lưu, hợp tác quốc tế. Yêu cầu đầu tiên đã rất rõ: bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được quán triệt.
Điều đáng chú ý là kế hoạch không chỉ giao việc cho các vụ, cục của Ngân hàng Nhà nước. Các tổ chức tín dụng được giao trực tiếp chủ trì nhiệm vụ xây dựng các nền tảng số phục vụ hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật, “tạo môi trường để cán bộ, nhân viên tiếp cận, sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật thông qua không gian thư viện số và các hình thức truyền thông nội bộ hiện đại”. Các cơ sở đào tạo của ngành được giao ưu tiên sản xuất học liệu đa phương tiện - podcast, video ngắn, thực tế ảo - “về di sản văn hóa ngành Ngân hàng”. Hằng năm, các đơn vị báo cáo kết quả về Ngân hàng Nhà nước trước ngày 15/11. Từ đây, văn nghệ trong một ngân hàng không còn chỉ là chuyện “phong trào”, mà trở thành một phần trách nhiệm chính trị của tổ chức, có chủ thể, có sản phẩm, có kiểm điểm hằng năm.
Bốn việc có thể làm ngay
Từ kinh nghiệm của một ngôi nhà, có thể gợi mở bốn việc, tương ứng với bốn nhóm nhiệm vụ của kế hoạch.
Thứ nhất, đưa văn học nghệ thuật vào chương trình làm việc của cấp ủy. Nghị quyết số 61-NQ/ĐU của Đảng ủy BIDV đã đặt chỉ tiêu 100% chi bộ tổ chức ít nhất một kỳ sinh hoạt chuyên đề về thực hành văn hóa. Một kỳ sinh hoạt chi bộ mở đầu bằng bài thơ “Cây Đức”, bằng cuộc đối đáp thầy - trò “Con cháu Bác Hồ, trọn đời trong sạch”, hay bằng câu chuyện cô gái hát trên đỉnh Trường Sơn - đó là cách để sinh hoạt chính trị có hồn, gần gũi mà vẫn sâu sắc, và để giáo dục đạo đức cách mạng đi vào lòng người bằng con đường của cái đẹp.
Thứ hai, số hóa và làm sống lại di sản văn nghệ của ngành. Với BIDV, “di sản văn hóa ngành Ngân hàng” mà kế hoạch nhắc tới đã sẵn có: hai tuyển tập thơ, các tập hồi ký, kho ca khúc, bộ Bản tin hơn 340 số, phim tư liệu. Số hóa chúng, đưa lên các nền tảng nội bộ, làm thành những podcast, video ngắn kể lại câu chuyện đằng sau mỗi bài thơ, bài hát - đó không chỉ là lưu trữ, mà là cách để mỗi cán bộ trẻ, ở bất cứ chi nhánh nào, đều có thể chạm vào ký ức của ngôi nhà chung. Nghiên cứu khoa học về văn hóa doanh nghiệp nhìn từ văn học nghệ thuật cũng cần được đẩy mạnh, để giá trị tinh thần được đọc, được phân tích và trở thành cơ sở cho chính sách.
Thứ ba, phát huy báo chí ngành và phong trào văn nghệ quần chúng. Các bản tin, tạp chí nội bộ có thể mở chuyên mục văn nghệ thường xuyên. Công đoàn, Đoàn Thanh niên có thể tổ chức trại sáng tác, cuộc thi viết, giải thưởng cho cán bộ ngân hàng, đúng tinh thần “kịp thời phát hiện, nhân rộng và biểu dương, khen thưởng” mà kế hoạch đặt ra. Những người như nhạc sĩ Vũ Thạch Hùng, những cây bút hồi ký ở mỗi chi nhánh, chính là hạt nhân của các câu lạc bộ nghệ thuật “nòng cốt làm đại sứ văn hóa”. Và mô hình “đi thực tế sáng tác” cho thấy mời văn nghệ sĩ chuyên nghiệp đến với đời sống ngân hàng vừa có tác phẩm chất lượng, vừa tạo cầu nối giữa ngành với đời sống văn hóa xã hội.
Thứ tư, đưa câu chuyện ngân hàng Việt Nam ra thế giới. Từ năm 1996, bản hành khúc của BIDV đã được dịch sang tiếng Anh. Với những ngân hàng có hiện diện quốc tế, văn học nghệ thuật là một kênh giao lưu mềm mại mà sâu sắc. Những câu chuyện về nghĩa tình, về phụng sự, được kể bằng thơ ca, âm nhạc, điện ảnh, có thể góp phần vào sức mạnh mềm quốc gia mà Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra.
Để những con số tiếp tục cất lời
Nhà thơ Đỗ Trung Lai nói: “Rất ít ngành có được một tập thơ quý như thế này.” Mong rằng, với Quyết định 1858/QĐ-NHNN, điều “rất ít” ấy sẽ dần trở thành “rất nhiều” - không chỉ ở BIDV mà ở mọi tổ chức tín dụng trong cả nước.
Một ngân hàng có thể đo sức mạnh của mình bằng tổng tài sản, lợi nhuận, thị phần. Nhưng cái làm nên bản sắc của nó, cái khiến người ta gắn bó và tự hào, lại nằm ở những thứ không có trong báo cáo tài chính: một câu thơ viết về người thủ quỹ “một xu không màng”, một bài hát vang lên trong đêm Sa Pa, một câu hỏi ngây thơ “Chúng con cảm ơn ai?”. Máy móc rồi sẽ cũ, sản phẩm rồi sẽ bị sao chép, con số rồi sẽ đổi thay từng quý; nhưng phần hồn được bồi đắp qua bảy mươi năm thì không đối thủ nào mua được.
Khi con số biết cất lời, đó là lúc nghề ngân hàng tìm lại được phần hồn của nó: đồng vốn không chỉ sinh lời, mà sinh ra niềm tin, nghĩa tình và khát vọng. Và đó cũng là cách những người làm ngân hàng hôm nay tiếp tục làm “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” như lời Bác dạy, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.





