So sánh sản phẩm
Tin tức mới

114Quốc phục áo dài Việt Nam

14:36:15 12-02-2019
NADSO - Áo dài Việt Nam xuất hiện từ bao giờ chưa ai khẳng định được. Tuy nhiên, pho tượng Ngọc nữ từ thế kỷ 17 hiện ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh cho thấy ít nhất ở thời đó, phụ nữ Việt cũng đã mặc loại áo dài có hình dáng của áo dài năm thân (sau thành ba thân và hiện nay là hai thân).
 
Sách Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn cho biết áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765). Như vậy, trang phục áo dài truyền thống Việt Nam được vinh danh là quốc phục của người Việt từ thế kỷ 17. Quốc phục này càng tôn lên hình ảnh duyên dáng phụ nữ Việt Nam với đầy đủ phẩm chất nổi bật về công, dung, ngôn, hạnh, trung hậu đảm đang. Hình ảnh áo dài Việt Nam trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 có bản sắc riêng, được du khách quốc tế đón nhận trên cơ sở uyển chuyển cách tân nhưng đậm chất truyền thống.
 


Áo dài mô phỏng từ thời trống đồng Đông Sơn đến nay

Trống đồng Đông Sơn (700 TCN - 100 SCN) khắc họa nhiều hình ảnh sinh động của con người. Trang phục của người thời đó mang nhiều họa tiết trên trống đồng Đông Sơn, có những nét quen thuộc mà chiếc áo dài hiện đại bây giờ khá phổ biến. Người Việt cổ thời đó đã mặc trang phục với hai tà áo xẻ đôi. Loại trang phục này được nữ giới sử dụng phổ biến kéo dài từ năm 2000 TCN cho tới năm 200 SCN. Thời kỳ này, trang phục áo dài chưa bị ảnh hưởng gì bởi phong kiến và văn hóa của Trung Quốc.
 
Thế kỷ XI đến thế kỷ XII triều đại nhà Lý, nước ta dưới ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc nên trang phục áo dài bị ảnh hưởng. Do khí hâu lạnh của phương Bắc, bộ trang phục thường có 3-5 lớp, ống tay áo rộng và dài, cùng với kiểu tóc phụ nữ búi cao. Thế kỷ XVI-XVIII, áo dài vẫn nhiều lớp nhưng tổng thể nhẹ nhàng, thanh thoát hơn và phụ nữ bắt đầu phô ra vẻ đẹp mái tóc của mình bằng cách buông xõa.
 


Áo dài tứ thân - Tư liệu
 
Thời nhà Lê, bộ trang phục áo dài thay đổi nhiều nhất về kiểu dáng. Đó là dạng áo giao lãnh bốn vạt, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước không buộc mà để giao nhau. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông xuống. Xưa phụ nữ búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng.
 
Có hai loại áo dài luôn song hành từ xưa đến nay. Đó là áo dài tứ thân và áo dài năm thân. Phụ nữ luôn gắn với công việc đồng áng hoặc buôn bán, để thuận tiện cử động áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân. Áo dài tứ thân có 2 vạt trước mở dọc thẳng từ cổ xuống đến gấu. Cổ áo tứ thân thấp, gần như không có. Loại áo này có từ thời Hán, Trung Quốc rồi trở nên phổ biến từ thời Đường và du nhập vào Việt Nam. Nửa đầu thế kỷ trước, áo dài tứ thân vẫn được phái nữ nông thôn Bắc Bộ mặc hàng ngày. Áo tứ thân mặc ra ngoài váy xắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ. Sư sãi Phật giáo Việt Nam hiện vẫn mặc loại áo tứ thân.
 
Phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân nên áo ngũ thân ra đời, vạt nửa trước phải thu bé lại trở thành vạt con và thêm một vạt thứ năm nhỏ hơn nằm dưới vạt trước. Áo ngũ thân (năm thân) che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống thành bốn, tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu. Vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm Nho giáo về ngũ thường và ngũ hành theo triết học Đông phương. Áo dài năm thân thiết kế cổ xây (cổ đứng) cài nút sang bên phải như chiếc áo dài ngày nay. Chưa ai có thể khẳng định được áo dài năm thân của Việt Nam xuất hiện từ bao giờ. Tuy nhiên, pho tượng Ngọc nữ từ thế kỷ 17 hiện ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh cho thấy ít nhất ở thời đó, phụ nữ Việt cũng đã mặc loại áo dài có hình dáng của cái áo dài năm thân (mà sau thành ba thân, hiện nay là hai thân).
 


Áo dài giao lãnh thế kỷ 17 - Tư liệu

Thời nhà Nguyễn, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam. Sách Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn cho biết để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong. Sắc dụ nêu về áo dài Việt Nam như sau: “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép ...” Theo chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765).
 
Năm 1776, sau khi quân đội của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chiếm được kinh đô Phú Xuân của xứ Đàng Trong, quan Hiệp trấn thủ Lê Quý Đôn của nhà Trịnh ra lệnh cho dân phải thay đổi lề lối ăn mặc theo tục lệ cũ như các trang phục của Đàng Ngoài. Theo lệnh này, về thường phục: “Từ nay trở đi, đàn ông và đàn bà chỉ được mặc loại áo ngắn tay với cổ đứng.” Ngắn tay nghĩa là tay áo chỉ dài đến cổ tay thay vì dài gấp đôi chiều dài tay như trong áo lễ.

Trước đó, sách Relation de la Nouvelle… (Mối quan hệ của cái mới), xuất bản tại Lille năm 1631, giáo sĩ Christoforo Borri tả rõ cách ăn mặc của người Việt đầu thế kỷ 17: “Người ta mặc năm, sáu cái áo dài, áo nọ phủ lên áo kia, mỗi cái một màu. Cái thứ nhất dài đến mắt cá chân một cách trang trọng. Rồi những áo khác bên ngoài ngắn dần”. Giáo sĩ này muốn nói đến cách mặc áo mớ ba, mớ bảy của phụ nữ Việt hiện còn thấy ở các làng Quan họ ở Bắc Ninh, Bắc Giang hay lác đác ở Huế cách đây khoảng hơn nửa thế kỷ. “Đàn ông cũng mặc năm, sáu lớp áo dài lụa. Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những dải dài. Khi đi lại, các dải này quyện vào nhau trông rất đẹp mắt. Mỗi khi có làn gió thổi thì các dải đó lại bay tung lên như cánh chim công thật ngoạn mục… Đàn ông Việt thời đó cũng để tóc dài và vấn khăn như đàn bà”.
 


Áo dài năm 1932 ở Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai - Ảnh Phan Văn Toàn chụp lại 

Các lớp áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng mà giáo sĩ Borri nhắc đến chỉ là cái xiêm cánh sen nghê thường. Hoặc có nơi gọi là quầy bơi chèo, mà người xưa mặc trước ngực hay dưới thắt lưng bên ngoài áo dài. Người Huế gọi là áo lá tua. Xiêm này có ba hoặc bốn lớp dải lụa may chồng lên nhau. Lớp dải trong cùng dài nhất, rồi các lớp bên ngoài ngắn dần. Các dải này ngày nay được đơn giản hóa bằng cách may thưa, nhỏ hơn và dính liền ba bốn lớp với nhau. Trang phục này xuất hiện mỗi dịp rước đình ở nông thôn phía Bắc, miền Trung và trong phục trang múa cung đình ở Huế.
 
Giáo sĩ Borri đề cập đến chiếc áo màu sậm của nam giới và sĩ tử lúc ấy tương tự như áo ngoài của các giáo sĩ đạo Công giáo thời bấy giờ. Nghĩa là giống chiếc áo dài năm thân của thời đại về sau này. Ông cho biết phần lớn đàn ông Việt đầu thế kỷ 17, nhất là giới sĩ tử đều mặc một cái áo dài lụa màu đen phủ ra ngoài các áo khác.
 
Năm 1819, khi thuyền trưởng Mỹ John White đến Sài Gòn, cách ăn mặc ở đây vẫn giống như giáo sĩ Borri đã thấy ở Thuận Quảng từ hơn hai thế kỷ trước đó. Ông cho biết: “Đàn ông và phụ nữ Sài Gòn khi ấy ăn mặc giống nhau, với nhiều lớp áo dài khác màu. Chiếc áo trong cùng dài đến mắt cá chân, rồi các áo ngoài ngắn dần… Tuy nhiên, lối ăn mặc kể trên chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu, còn phục trang của đại đa số người dân thì trang nghiêm hơn với màu sậm.”
 


Áo dài năm 1938 tại một gia đình ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An - Ảnh Phan Văn Toàn chụp lại

Đầu thế kỷ 20, đại đa số áo dài phụ nữ thành thị ở Việt Nam đều may theo thể năm thân, hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải thân trước. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay. Sở dĩ áo phải nối thân và tay như thế là vì các loại vải tốt như lụa, sa, gấm, đoạn… ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40 cm.
 
Cổ, tay và thân trên áo dài phụ nữ thời ấy thường ôm theo người, tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chít eo. Vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ở gấu áo. Gấu vạt trước áo được cắt dài hơn vạt sau và được may võng để phần giữa gấu không bị thụng và ngực áo kéo vòng lên khi mặc. Cổ áo chỉ cao khoảng 2 cm cho phái nữ và 3 đến 4 cm cho nam giới.
 
Phụ nữ Huế giữ cổ áo cao khoảng 3 cm. Riêng ở phía Bắc từ thập niên 1910 – 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3 cm bên phải cổ áo và cài khuy cổ lệch. Cổ áo lệch sẽ hở ra tạo vẻ quyến rũ hơn và cũng để khoe chuỗi hột trang sức quấn nhiều vòng quanh cổ, bên trong cổ áo.
 


Áo dài thắt eo lưng ong - Tư liệu

Thời ấy, các vải áo màu đậm được dùng nhiều nhất. Mùa Thu, Đông dùng các loại gấm, đoạn. Xuân, Hạ dùng sa, vân. Vì màu nhuộm lấy từ chất liệu thiên nhiên của các loại vải dễ phai, vì thế người xưa không giặt các áo dài may bằng vải đắt tiền, thường dùng làm áo ngoài. Những chiếc áo này chỉ được phơi nắng một năm vài lần rồi ướp hương thơm bằng trầm hay hương bài trong tráp gỗ. Đa số áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may một lớp vải lót dính liền bên trong. Nhất là khi áo được may bằng vải mỏng cho kín đáo.
 
Áo kép này được mặc khoác lên áo dài thứ hai lót bên trong. Lớp áo lót bên trong thấm mồ hôi, vì thế được may bằng vải trắng để không sợ bị phai màu và dễ giặt. Hai lớp áo dài mặc cùng với cái áo cánh ở trong cùng tạo thành một bộ áo mớ ba.
 
Quần mặc cùng áo dài may rộng vừa phải, trên 30 cm với đũng thấp. Thời đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế, cả nam lẫn nữ, hay mặc loại quần chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm.
 


Áo dài các nguyên thủ mặc trong Lễ bế mạc Hội nghị APEC 14 tại Hà Nội năm 2006 - Tư liệu ảnh TTXVN
 
Thập niên 30-40 thế kỷ XX, phụ nữ thành thị bắt đầu dùng các loại vải màu tươi, sáng hơn, được nhập về từ châu Âu. Gấu áo dài nữ thường được may trên mắt cá khoảng 20 cm. Trong khi từ cổ chí kim, vạt áo dài nam giới vẫn chỉ không dài quá đầu gối 10 cm. Cuối thế kỷ 20, thiếu nữ khắp nơi mặc quần trắng với áo dài. Quần đen dành cho phụ nữ đã lập gia đình. Tuy nhiên, phần lớn phái nữ thuộc mọi lứa tuổi ở Huế vẫn mặc quần trắng.
 
Một vài nhà tạo mẫu áo dài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, họ gần như chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo, vì vải phương Tây dệt được khổ rộng hơn. Phần tay áo vẫn may nối. Các họa sỹ Lê Phổ và Lê Thị Lựu đi tiên phong trong việc bỏ sống nối dọc giữa thân áo, thu gọn bớt chiều rộng của vạt áo và tay áo. Áo dài ba thân bắt đầu từ đây. Nhưng nổi nhất thời ấy là họa sỹ Cát Tường ở phố Hàng Da, Hà Nội. Trong những năm cuối của thập niên 1930, Cát Tường tung ra các kiểu áo dài được ông Âu hóa, cả về kiểu dáng lẫn tên gọi. Lịch sử áo dài gọi đó chính là áo dài Lemur (do ông tự dịch tên của mình ra tiếng Pháp).
 
Áo Lemur vẫn giữ nguyên phần áo dài may không nối sống bên dưới. Nhưng cổ áo khoét hình trái tim với mũi nhọn đằng trước ngực hay sau lưng. Và một cái nơ đính vào chỗ khoét nhọn đó. Có khi áo được gắn thêm cổ bẻ. Vai áo may phồng, tay nối ở vai và cũng có khi áo dài Lemur khoét hở đến giữa lưng và không có tay. Khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Quần của áo dài Lemur cắt ống loe rộng. Trong bài báo đăng trên báo Phong Hóa năm 1938, họa sỹ Cát Tường cổ xúy việc phế bỏ cái cổ xây của áo dài. Ông cho rằng dù theo phong tục thì cổ phải che dấu. Nhưng cái cổ áo dài nhỏ thế kia thì che được gì, mà lại vướng víu. Và tay áo cũng nên được cắt bỏ vì lý do tương tự. Vì thế mà áo dài Lemur bị xem là táo bạo, chỉ giới nghệ sỹ thời thượng mới dám mặc. Cũng vì những tranh cãi đó mà áo dài Cát Tường đã tạo tiếng vang lớn, nhưng chỉ tồn tại 3-4 năm.
 


Áo dài cách tân của nhà thiết kế Đức Hùng - Ảnh Phan Văn Toàn chụp qua ti vi

Thập niên 1950, sườn áo dài được may có eo dù vẫn không xếp li. Thợ may thời đó khôn khéo cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau hơi rộng hơn thân áo trước, nhất là ở phần mông, để áo ôm theo dáng người mà không cần chít li ở eo. Vạt áo cắt hẹp hơn. Thân áo trong, tức là thân áo thứ ba hay còn gọi là vạt hò, được cắt ngắn dần từ giai đoạn ấy. Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu hạ thấp xuống. Áo dài thời này cho đến đầu thập niên 1960 tà phải ôm, không hở quần thì mới được cho là may khéo.
 
Áo dài thay đổi nhiều nhất những năm 1960, do phụ nữ dùng nịt ngực ngày càng phổ biến nên áo dài được may chít eo tôn dáng ngực. Eo áo được cắt cao lên hở cạp quần. Gấu áo lúc này vì hẹp cho nên được cắt thẳng ngang và may dài gần đến mắt cá chân. Nhiều phụ nữ miền Nam lúc ấy còn dùng dây gai quấn quanh bụng cho nhỏ để mặc áo dài chít eo lưng ong.
 
Nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn đã đưa cách ráp tay raglan vào áo dài (tức là tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách, phần ống tay áo có màu khác với màu phông chính của áo). Tà trước nối với tà sau qua hàng nút bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên hông. Kiểu ráp này vừa giảm nếp nhăn ở nách, cho phép tà áo ôm khít theo đường cong mềm mại của người mặc, giúp cử động tay thoải mái, linh hoạt. Từ đây, chiếc áo dài Việt Nam đã được định hình cơ bản như hiện nay.
 
Gần cuối thập kỷ 1960, theo trào lưu Hippy, thời trang váy ngắn quần loe phổ biến. Áo dài mini của nữ giới trở thành thời thượng. Vạt áo may hẹp và ngắn, có khi đến đầu gối. Áo may rộng hơn, ban đầu có xếp li ở eo. Nhưng các nhà thiết kế lúc đó thấy áo dài vạt ngắn có chít li trông cũn cỡn phản mỹ thuật. Một thời gian sau, áo dài mini không chít eo nữa, nhưng đường lượn vẫn giữ một cách tương đối theo cơ thể. Cổ áo thấp xuống còn 3 cm. Tay áo may rộng và ngắn hơn.
 
Thập kỷ này, vai áo dài phụ nữ bắt đầu cắt lối raglan để vai áo ôm, ít nhăn mà lại đỡ tốn vải hơn. Tay áo dài từ đây được nối với thân từ vai chéo. Áo dài phái nam vẫn giữ cách nối tay cổ điển để vai áo vuông vức, nam tính hơn. Áo dài nữ gồm 2 mảnh bó sát eo, rồi từ đáy lưng ong 2 thân thả bay xuống tận gót chân tạo nên những bước đi duyên dáng, mềm mại, uyển chuyển hơn cho người con gái. Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã lướt trên đường phố trở thành tâm điểm chú ý như những bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều, thanh lịch của chị em và khung cảnh xung quanh. Chiếc quần may theo kiểu quần ống rộng bằng thứ vải đồng chất đồng màu hay sa tanh trắng nâng đỡ tà áo và làm tăng sự mềm mại thướt tha cho bộ trang phục mượt mà duyên dáng, gợi vẻ đằm thắm.
 
 
Áo dài truyền thống và cách tân 2019 - Ảnh Phan Văn Toàn
 
Nữ sinh trường Quốc học Huế trong trang phục áo dài trắng như biểu trưng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt ngót thế kỷ nay. Ngày nay, trang phục đó trở thành đồng phục của nhiều nữ sinh các trường trung học phổ thông và cơ sở như muốn nói với mọi người, với du khách quốc tế về văn hoá và bản sắc dân tộc Việt Nam. Tà áo trắng bay bay trên đường phố, tiếng cười hồn nhiên trong trẻo của những cô cậu học sinh trên xe đạp gợi cho người qua đường một cảm giác bâng khuâng nhớ về thuở học trò bao kỷ niệm sáng trong.
 
Áo dài nâu, hồng, đỏ duyên dáng trong ngày Tết cổ truyền, lễ hội quê hương, đám cưới hay những buổi lên chùa của các bà, các mẹ, các chị là một cách biểu hiện sự thành kính, tôn nghiêm khi đến cửa thiền. Trang phục áo dài trùm gối, khăn mỏ quạ chít khéo như hoa sen, tay nâng mâm lễ kính cẩn lên cửa chùa, miệng "mô phật di đà"...  hình ảnh ấy đã đi vào tranh dân gian Đông Hồ là một biểu tượng độc đáo của văn hoá Việt Nam. Thời kỳ công nghiêp 4.0, trong muôn vàn sự cách tân về trang phục, váy đầm, áo ngắn, các loại thời trang... quốc phục áo dài Việt Nam vẫn chiếm độc tôn về bản sắc dân tộc, mang theo phong cách và tâm hồn người Việt đến với năm châu. Chúng ta nhớ mãi hình ảnh áo dài vinh dự là trang phục chính cho các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam. Áo dài, như vậy thực sự là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt trong dòng chảy lịch sử nhân loại.
                                                                        
Bài & ảnh: Phan Văn Toàn (Sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu)
 
 

Tags:
Tin tức mới
Album mới
  • Là một người làm quản lý ngành văn hóa của Thị xã Cửa Lò và huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An hơn 40 năm, cũng khoảng chừng đó thời gian ông cầm máy ảnh để phục vụ cho chuyên môn và niềm đam mê của mình. Nhưng phải đến lúc nghỉ hưu ông mới có thời gian để thực hiện niềm đam mê đó. Hiên nay mỗi năm ông có 6 tháng sống ở Mỹ và khoảng thời gian đó ông chủ yếu dành để đi sáng tác ở các địa danh nối tiếng nước Mỹ, cũng như đời sống sinh hoạt của người dân Mỹ, để được bày tỏ cảm xúc của mình cho niềm đam mê trên từng tác phẩm.
    Tạp chí Nhiếp ảnh và Đời sống xin giới thiệu một số tác phảm của ông được thực hiện tại Mỹ:
     
  • Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Quang Thành đã hơn 80 tuổi Nhưng ông vẫn miệt mài sáng tác, không chi ở Hà Nội mà ông còn đi khắp miền Tây Bắc. Niêm đam mê cảnh đẹp mùa xuân và nghệ nghiệp khiến ông không bao giờ ngơi nghỉ. NAVĐS xin giới thiêu với bạn đọc bộ ảnh Mùa xuân Tây Bắc của Ông. Ông tâm sự tren Facebook:  "Tôi kém đủ điều nên ngại sử dụng máy tính, đặc biệt là trang Phây - búc. Đành là gom góp những gì tôi lượm được từ các bạn, đồng nghiệp và người thân rồi viết lời cảm ơn, cáo lỗi, mong được lượng thứ".
    Xin gửi tới các bạn ít tấm ảnh Xuân trên vùng Đông - Tây Bắc Tổ quốc gọi là chút quà Tết tôi mang ở đó về, thay cho lời cảm ơn của tôi đến với mọi người.
    Đinh Quang Thành
  •  
    Theo nhận định của các chuyên gia du lịch tại Việt Nam, trong tương lai gần, loại hình du lịch chụp ảnh sẽ phát triển bởi vì đất nước ta có rất nhiều cảnh đẹp, rất nhiều di sản thiên nhiên,vật thể, phi vật thể của nhân loại mà Việt Nam đang nắm giữ. các khu vực di sản, điểm tham quan du lịch, làng cổ, làng nghề và hình ảnh đầy màu sắc về cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam. Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thông tin, các thiết bị thông minh như điện thoại di động, máy ảnh, tiện lợi dễ sử dụng. Bên cạnh đó đời sống văn hóa tinh thần ngày càng cao, đòi hỏi cuộc sống có nhiều thay đổi và ngành du lịch cũng đã phát triển không ngừng và từng bước đổi mới để bắt nhịp với cuộc sống.

    Những người yêu thích bộ môn nhiếp ảnh thường tự tận hưởng niềm đam mê của mình bằng các cuộc hành trình đi đến những nơi có khung cảnh đẹp để chụp cho riêng họ một bộ ảnh tuyệt vời. Loại hình du lịch này được gọi là "các chuyến tham quan chụp ảnh", và gần đây một số công ty du lịch tại Việt Nam đã tổ chức các tour du lịch như vậy để đáp ứng nhu cầu của các vị khách đam mê "ngắm và bắn".
      Tạp chí nhiếp ảnh và Đời sống đang hướng tới các tua du lịch chụp ảnh, chụp ảnh ở đâu, mùa nào chụp cái gì và định hướng tổ chức tư vấn cho những người đam mê du lịch chụp ảnh, để chuyển đi du lịch đạt kết quả như mong muốn, có thêm những tác phẩm tốt sau chuyên du lịch, thỏa nỗi đam mê. Không riêng gì các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp mà tất cả các bạn trẻ thích phượt chụp ảnh chúng tôi cũng tổ chức cho những tua riêng. 
     

    Doanh nhân Vũ Minh Châu ( Tổng giám đốc CT Vàng bạc đá quí Bảo Tín Minh Châu) trong đợt đi du lịch chụp ảnh tại Bản đảo Sơn Trà
    do hướng dẫn viên TCNA&ĐS tổ chức                                Ảnh: Vũ Đức Huy

      Ông Vũ Minh Châu - Tổng Giám đốc Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Minh Châu nói rằng;  Mặc dù công việc rất bận rộn nhưng anh và bạn bè thường tổ chức các chuyển đi du lịch chụp ảnh do các nghệ sĩ nhiếp ảnh làm hướng dẫn viên. Ông không đặt nặng tầm quan trọng về tính nghệ thuật của bức ảnh, nhưng cố gắng chụp rất thực tế và sống động gây nhiều cảm xúc cho người xem. Điều quan trọng là mỗi khi nhìn qua ống kính và bấm máy, là một khoảnh khắc đẹp đã được ghi lại. Chúng tôi thực sự thích ý nghĩa này, vì vậy chúng tôi thường tự tổ chức các chuyến tham quan chụp ảnh như vậy. Nếu có được tổ chức tua định hướng chụp cái gì ở đâu theo mùa vụ và chuyên nghiệp thì mình sắp xếp được lịch trước, mặc định được kể hoạch trước, có lịch thì dễ đi hơn nên mình sẽ sẵn sàng đăng ký tham gia tua này.

    Trào lưu đang thịnh hành bây giờ là một số lượng lớn những bạn trẻ ở các thành phố lớn thường lập các nhóm để cùng nhau đi xa chụp ảnh một cách tự do. Họ thường đi tới các điểm đến nổi tiếng có cảnh quan tuyệt đẹp và văn hóa nổi bật để chụp ảnh. Đối với những người không thể đi xa thì họ chỉ chụp ảnh ở thành phố nơi họ sinh sống, nhưng nếu chịu khó tìm kiếm những góc mới trong thành phố, họ vẫn có thể cho ra đời những tác phẩm sống động.
     

    Vọc chà vá chân nâu tại bản đảo Sơn Trà            Ảnh : Vũ Minh Châu
     
    Những người yêu thích bộ môn nhiếp ảnh thường tự tận hưởng niềm đam mê của mình bằng các cuộc hành trình đi đến những nơi có khung cảnh đẹp để chụp cho riêng họ một bộ ảnh tuyệt vời. Loại hình du lịch này được gọi là "các chuyến tham quan chụp ảnh", còn giới chuyên môn nhưHội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh thì thường tổ chức các Trại sáng tác hàng năm  và gần đây một số công ty du lịch tại Việt Nam đã tổ chức các tour du lịch như vậy để đáp ứng nhu cầu của các vị khách đam mê "ngắm và bắn".Tuy nhiên vì những người đi chụp ảnh du lịch lần đầu tiên đến các đia điểm du lịch nên họ không hiếu biết nhiều về những góc nhìn, vị trí, ảnh sáng, thời tiết, văn hóa tập quán, phong tục...  của từng vùng miền đề chụp được những bức ảnh đẹp. Nên bị bỏ lỡ nhiều cơ hội dẫn đến không có được những bức ảnh tốt do vậy Tạp chí Nhiếp ảnh và Đời sống sẽ tổ chức chuyên nghiệp cho các tua du lịch chụp ảnh, hướng dẫn kỹ thuật định hướng kể hoạch cho các tác giả,các du khách có những bức ảnh đẹp nhất khi đi du lịch chụp ảnh. Hướng dẫn viên là các Nghệ sĩ nhiếp ảnh chuyên chụp ảnh về ngành du lịch sẽ trực tiếp dẫn dắt các tua du lịch chụp ảnh. Các hướng dẫn viên là nghệ sĩ nhiếp ảnh nên sắp xếp các các đối tượng chụp và cảnh sao cho phù hợp, chẳng hạn như các chợ phiên địa phương với hình ảnh mua bán tấp nập, cảnh một phụ nữ trẻ chèo thuyền trên dòng sông chiều hoàng hôn nắng vàng, mùa gặt của đồng bào vùng cao, nghề dệt thổ cẩm ở đâu.... Và  chúng tôi luôn phải tìm kiếm, phát hiện các điểm đến mới lạ, nắm bắt được những khoảnh khắc đẹp, tìm được những góc chụp đẹp và mùa nào đẹp để tư vấn cho khách du lịch.
     
    Với du khách nước ngoài, cũng có nhiều yêu cầu khác nhau.Mặc dù họ yêu thích các điểm du lịch nổi tiếng như Huế, Mỹ Sơn và Hạ Long nhưng họ không có đủ thời gian để chụp ảnh. Tuy vậy cảnh một nữ sinh trung học mặc áo dài trắng tung bay trong gió sau giờ tan học, cảnh người lao động nghỉ ngơi sau thời gian làm việc hay cảnh của một gia đình đang đoàn tụ bên bếp lửa tại một nơi nào đó trong khu vực trung tâm có thể thu hút khách du lịch nước ngoài trong nhiều giờ.Thường các ống kính của du khách Việt Nam dùng để ghi lại những khoảnh khắc đẹp về phong cảnh, di sản.. thì, trong khi ống kính của du khách nước ngoài thường để khám phá cuộc sống hàng ngày ở Việt Nam"
     





    Hiên nay một số công ty du lịch lữ hành đã tổ chức các tua du lịch chụp ảnh nhưng Do yêu cầu cao nên chi phí của loại hình du lịch này thường cao hơn 25-30% so với tour bình thường vì các công ty du lịch phải mời các nhiếp ảnh gia và người mẫu để phục vụ cho một nhóm nhỏ khách du lịch. Một số nhà khai thác tour du lịch đã hợp tác với các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp để tổ chức các tour du lịch chụp ảnh cho khách du lịch trong nước và ngoài nước.


    Những tác phẩm gặt hái được sau các chuyến du lịch chụp ảnh do TCNA&ĐS tổ chức

     Tạp chí Nhiếp ảnh và Đời sống có một đội ngũ phóng viên, cộng tác viên là các nghệ sĩ nhiếp ảnh đại diện ở các khu vực trên cả nước, rất am hiếu từng chi tiết của các địa điểm chụp ảnh. Chúng tôi luôn tìm tòi khám phá để tìm ra những góc ngoạn mục tại mỗi điểm đến và sắp xếp, hướng dẫn tất cả mọi thứ cho khách du lịch để họ có được những bức ảnh đẹp nhất. Đây là một lĩnh vực mới mà chúng tôi đang hướng đến để chuyên nghiệp hóa các tú du lịch chụp ảnh và tổ chức sự kiện. Trong các chuyến đi chúng tôi  luôn cập nhật thông tin hàng giờ, hàng ngày. Sau mỗi chuyển du lịch các tác phẩm tốt của khách du lịch được chúng tôi đăng tải quảng bá rỗng rãi trên Tạp chí Nhiếp ảnh và Đời sống in và điện tử.
            Sỹ Minh
     

  • Ngoài là nhà kinh doanh tài ba, nổi tiếng là "ông vua" ngành vàng, Doanh nhân văn hóa- TGĐ Vũ Minh Châu còn là người có tâm hồn nghệ sĩ, yêu thiên nhiên, đất nước qua từng khung hình nhỏ.  Với ông khi đã bị "vướng" vào cái duyên nhiếp ảnh và trở thành "tín đồ" của nghệ thuật ảnh, đó chính là lúc nhiếp ảnh giúp ông vươn tới cái đẹp, hoàn thiện bản thân trong công việc và cuộc sống.
    Với niềm say mê chụp ảnh cùng những chuyến đi TGĐ Vũ Minh Châu đã thu cả nghìn trùng nước non, thiên nhiên bao la hùng vỹ, tình yêu lao động... nằm gọn trong hàng trăm bức ảnh nghệ thuật của mình. Cũng thật là cơ duyên, vào năm 2010 tình cờ những bức ảnh của ông được mời tham gia triển lãm ảnh Chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long, Hà Nội. Và may mắn, tác phẩm ảnh "Hàng Xuất Khẩu" của ông Vũ Minh Châu đã đạt điểm 10- Điểm cao nhất do Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam chấm điểm và được trưng bày tại triển lãm ảnh "Hà Nội - Thời đại Hồ Chí Minh". Đây là một trong những niềm vinh dự mà tình yêu nghệ thuật đã mang lại vinh dự cho ông.
      Tạp chí NA&ĐS xin giới thiệu với bạn đọc một số tác phẩm của Ông trong một chuyến đi sáng tác tại Đà Nẵng.
      Sỹ Minh

     

Top